Chuyên
trang
Chuyến tông
du Hoa Kỳ của ĐTC Bênêđictô XVI từ ngày 15 - 21/04/2008
Một luồng gió Công giáo thổi
trong tòa Bạch Ốc
Một thời gian ngắn sau khi Bênêđictô XVI được bầu
làm giáo hoàng năm 2005, tổng thống Bush họp với một nhóm nhỏ các vị cố vấn tại
Văn phòng Bầu dục. Khi có vài người đề cập đến quá trình tôn giáo của mình, tổng
thống cho biết ông đã đọc một trong những cuốn sách về đức tin và văn hóa ở Tây
Âu do vị tân giáo hoàng trước tác.
 |
|
TT Bush gặp ĐGH Benedictô
năm ngoái tại Vatican |
Lúc đó, Tổng thống Bush là người duy nhất trong
gian phòng không theo đạo Công giáo. Nhưng mối quan tâm của ông đối với các bài
viết của vị giáo hoàng là điều không lạ lẫm đối với những người chung quanh ông.
Trong khi Bạch ốc chuẩn bị đón tiếp ĐGH
Bênêđictô XVI vào ngày thứ Tư (16/4/2008), nhiều người trong giới thân cận với
ông Bush hy vọng Đức giáo hoàng sẽ thấy nơi vị tổng thống một người đồng cảm.
Bởi vì, có ai đó cho rằng, nếu Bill Clinton có thể được gọi là vị tổng thống da
đen đầu tiên thì George W. Bush có thể đúng là vị tổng thống Công giáo thứ nhất
của đất nước.
Ý tưởng đó nghe ra có vẻ kỳ lạ. Đúng vậy, đã có John F. Kennedy là người Công
giáo rồi kia mà. Nhưng ở chỗ Kennedy tìm cách tách rời tôn giáo của mình khỏi
văn phòng làm việc thì Bush lại đón chào học thuyết và giáo huấn của Công giáo
Rôma vào toà Bạch ốc, và trên đó ông đặt căn bản nhiều quyết định quan trọng
trong chính sách đối nội.
Rick Santorum, cựu nghị sĩ bang Pennsylvania và là tín hữu Công giáo đạo hạnh,
người đầu tiên gán cho Bush nhãn hiệu “tổng thống Công giáo”, đã nói rằng: “Tôi
nghĩ chả có điều gì phải thắc mắc về chuyện đó. Ông ấy chắc là Công giáo hơn
Kennedy nhiều.”
Bush đi một nhà thờ giáo hội Giám chế (Episcopal) ở Washington, gia nhập giáo
hội Giám lý (Methodist) ở Texas, còn căn bản chính trị của ông đặt vững chắc
trên giáo hội Truyền đạo (Evangelical). Vậy mà chung quanh ông tổng thống theo
đạo Tin lành này lại là những nhà trí thức, người viết diễn văn, giáo sư, linh
mục, giám mục và chính trị gia Công giáo. Những người Công giáo này -- và cùng
với họ, giáo huấn xã hội Công giáo -- suốt tám năm qua đã hình thành các bài
diễn văn, các chính sách và di sản của Bush đến một mức độ có lẽ chưa từng xảy
ra trong lịch sử Hoa kỳ.
“Tôi thường hay nói rằng có nhiều người Công giáo trong đội ngũ soạn thảo diễn
văn cho tổng thống Bush hơn đội hình tiền đạo trường Notre Dame suốt nửa thế kỷ
vừa qua.” Đó là lời ông William McGurn, một người Công giáo, là học giả trước
đây đã phục vụ cho tổng thống Bush.
Bush cũng đã đặt người Công giáo vào những vai trò nổi bật trong chính quyền
liên bang, và dựa vào các truyền thống Công giáo để áp dụng trong lãnh vực công
cộng cho mọi chuyện, từ đề án tổ chức từ thiện tôn giáo (faith-based initiative)
cho đến luật lệ chống phá thai. Ông đã phối hợp chủ nghĩa trí thức Công giáo với
lương tri chính trị Tin lành để làm nên một liên minh cử tri đoàn mạnh mẽ.
“Có một ý thức nơi tòa Bạch ốc cho rằng truyền thống trí thức Công giáo phong
phú là tài nguyên để nối kết giữa đức tin Kitô giáo, các phán quyết về luân lý
đặt trên nền tảng tôn giáo, với chính sách công cộng”, đó là lời của cha Richard
John Neuhaus, một linh mục Công giáo, biên tập viên báo First Things, đã giảng
huấn cho Bush về các học thuyết xã hội của giáo hội gần cả một thập niên.
Vào cuối thập niên 1950, đạo Công giáo của Kennedy chập chờn như một cánh chim
hải âu chính trị, và ông ta đã cật lực giữ một vị trí cách xa giáo hội của mình.
Ông tuyên bố tôn giáo của ông “không liên quan gì” đến việc chấp nhận đảng Dân
chủ đề cử ông làm ứng viên tổng thống năm 1960.
Trái lại, Bush và chính quyền của ông thì lại không có mối lo ngại như thế về
những mối dây liên hệ với Công giáo. Có những lúc họ còn trưng ra vì mục đích
chính trị nữa. Ngay cả trước khi đi vào tòa Bạch ốc, Bush và nhà chính trị sừng
sỏ của ông là Karl Rove còn mời các nhà trí thức Công giáo tới Texas để diễn
giảng cho ứng cử viên về các giáo huấn xã hội của giáo hội. Vào tháng giêng năm
2001, chuyến xuất hiện chính thức ra ngoài Bạch ốc lần đầu tiên trong cương vị
tổng thống của ông Bush tại thủ đô quốc gia, là bữa ăn tối với vị tổng giám mục
Washington, lúc đó là Theodore McCarrick. Mấy tháng sau, Rove (một người theo
đạo Episcopal) hỏi xin vị cựu cố vấn Công giáo tòa Bạch ốc là Deal Hudson tìm
cho một vị linh mục để làm phép văn phòng của mình ở cánh Tây tòa Bạch ốc.
Hudson nói: “Đã có ý thức rất rõ rệt rằng những người bảo thủ trong các tôn giáo
đã đưa Bush vào Bạch ốc, và [chính quyền Bush] muốn làm những gì mình đã được họ
ủy thác.”
 |
|
Về chiến tranh Iraq, ĐGH
JPII nói "phải rút quân" |
Đối với những người Công giáo bảo thủ, điều đó có
nghĩa là: ngăn chặn hôn nhân đồng tính, an tử, và nghiên cứu tế bào gốc từ phôi
người, và hoạt động để giới hạn vấn đề phá thai ở Hoa kỳ cũng như ngoài nước
bằng cách đề cử những thẩm phán có thể có quan niệm coi phá thai là bất hợp
pháp. Để quan trọng hóa, Bush thường hay vay mượn khúc ca tán dương “một nền văn
hóa sự sống” của Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Nhiều người Công giáo thân cận với
ông tin tưởng rằng gần 300 vị thẩm phán ông đã bổ nhiệm vào ghế chánh án liên
bang – đáng kể nhất là John Roberts và Samuel Alito, hai người Công giáo ở Tối
cao Pháp viện – có thể là di sản lớn lao nhất của ông.
Bush cũng dùng học thuyết và lối nói hoa mỹ Công giáo để đẩy mạnh đề án tổ chức
từ thiện tôn giáo (faith-based initiative), đó là một phong trào nhằm mở quỹ tài
trợ liên bang cho các nhóm tôn giáo thường cung cấp dịch vụ xã hội cho cộng đồng
của họ. Phần lớn sáng kiến này dựa trên nguyên lý Công giáo về “phụ trợ hạ tầng
(subsidiarity)” – do tư tưởng cho rằng người dân địa phương là người ở trong
cương vị thích hợp nhất để giải quyết các vấn đề tại địa phương. “Tổng thống có
lẽ tuyệt đối không biết gì về giáo lý đạo Công giáo, nhưng ông rất quen thuộc
với nguyên tắc phụ trợ.” Đó là lời H. James Towey, cựu giám đốc Văn phòng tòa
Bạch ốc về đề án tổ chức từ thiện tôn giáo, nay là chủ tịch một trường đại học
Công giáo ở vùng tây nam Pennsylvania. Ông nói thêm: “Có nghĩa như chính phủ
không phải là vị cứu tinh, và các vấn đề như nghèo đói có gốc rễ tâm linh.”
Tuy nhiên, Bush không phải không gặp những chỉ trích từ phía những người Công
giáo của ông. Một số người cho rằng lối nói hoa mỹ ông dùng khi nói về tổ chức
từ thiện tôn giáo chỉ là chủ nghĩa bảo thủ tỉnh nhỏ khoác lên mình bộ phẩm phục
tôn giáo, còn các chính sách về kinh tế của ông, bao gồm cả chuyện giảm thuế cho
người giầu, đã tạo nên một khoảng cách biệt về của cải, rõ rệt lật ngược nguyên
lý Công giáo về sự đồng cảm với người nghèo.
John Carr, một vị giám đốc cao cấp phụ trách chính sách công của Hội đồng Giám
mục Hoa kỳ, gọi di sản của chế độ Bush là “câu chuyện về hai chính sách.”
Ông nói: “Cái tốt đẹp nhất của chính phủ Bush là ở các việc phát triển trợ giúp
để ngăn ngừa bệnh HIV/AIDS ở Phi châu. Còn về chính sách đối nội, chủ nghĩa bảo
thủ thắng thế lòng nhân ái.”
Những người Công giáo có thế giá khác kết án tổng thống đã không đếm xỉa đến các
giáo huấn của Roma về chiến tranh tại Iraq và về chuyện tra tấn tù binh. Nhưng
ngay cả khi ông đã thực thi những chuyện mà Vatican phản đối, chẳng hạn việc xâm
lăng Iraq, Bush cũng tỏ ra tôn trọng các giáo huấn của giáo hội. Trước khi gửi
quân đội Mỹ vào Baghdad để lật đổ Saddam Hussein, ông đã gặp các “thần học gia”
Công giáo để thảo luận về lý thuyết của một cuộc chiến tranh có chính nghĩa. Cố
vấn tòa Bạch ốc Leonard Leo, người đứng đầu liên lạc với cử tri Công giáo của Ủy
ban Quốc gia đảng Cộng hoà, nói rằng Bush “đã tiến hành đối thoại với người Công
giáo và chia sẻ các viễn ảnh với người Công giáo theo kiểu mà tôi thiết nghĩ là
khá độc đáo trong nền chính trị Hoa kỳ.
Hơn nữa những người thân cận với Bush nói rằng ông đã thú nhận không chút dấu
giếm sự thán phục kỷ luật của giáo hội, và cá nhân ông bị lôi cuốn về tầm rộng
lớn và tính thống nhất trong các giáo huấn của giáo hội. Một linh mục ở New York
là bạn của tổng thống nói rằng ông Bush kính trọng đường lối đạo Công giáo ngay
từ nền móng – với ý niệm rằng chức vị giáo hoàng là ý Chúa sắp đặt và giáo hoàng
là người kế vị thánh Phêrô. Linh mục này nói: “Tôi thiết nghĩ điều làm ông thich
thú về đạo Công giáo là tính cách hợp lý theo lịch sử. Quả ông coi trọng nền
thần học có hệ thống của giáo hội, tính thuyết phục và tính ổn định đầy trí
thức.” Linh mục cũng nói rằng Bush “không phải không biết đạo Tin lành – khi so
sánh với Công giáo – dường như bị giới hạn hơn, cả về thần học lẫn lịch sử.”
Người trước kia viết diễn văn cho Bush là Michael Gerson, một tín đồ đạo
Evangelical rất hâm mộ giáo huấn Công giáo, nói rằng chìa khoá để hiểu chính
sách đối nội của Bush là nhìn chính sách đó qua lăng kính của Tòa thánh Roma.
Những người khác còn đi xa hơn thế nữa.
Paul Weyrich, một chuyên viên về quyền tôn giáo, thấy nơi ông Bush có bóng dáng
cựu thủ tướng nước Anh, Tony Blair, người mới trở lại theo Công giáo năm ngoái
đây. Ông nói về Bush: “Tôi nghĩ ông ta là một tín hữu bí mật.” Tương tự như thế,
giám đốc đầu tiên của Bush về Đề án tổ chức từ thiện tôn giáo, đã gọi tổng thống
là “một người Công giáo bí mật”. Trong câu nói của ông chỉ có một nửa là lời đùa
cợt.
(Nguồn: Bài của Daniel Burke, phóng viên toàn quốc báo Washington Post, phụ
trách Tin Tôn giáo).
Theo
Phụng Nghi
Vietcatholic
News
