Năm
Thánh Linh Mục
19.6.2009 - 19.6.2010
Linh mục, chứng nhân đời sống khó nghèo
BÀI CHIA SẺ TRONG THÁNH LỄ THỨ NĂM (Sau Chúa Nhật II MC)
TUẦN TĨNH TÂM NĂM 2009
Dẫn nhập: Kính thưa...
Hôm
nay, ngày cuối của tuần tĩnh tâm linh mục, ngày mà theo chương trình
truyền thống của tuần tĩnh tâm năm giáo phận Qui Nhơn, dành riêng để
cầu nguyện và tưởng nhớ đến các Giám Mục, linh mục, Phó tế trong giáo
phận đã qua đời. Hôm nay cũng là ngày Thứ Năm trong tuần II Mùa Chay,
tuần lễ mời gọi Dân Chúa cùng “Biến Hình” với Chúa Kitô trong cuộc hành
hương tiến về Đại lễ Phục Sinh, chấp nhận sẵn sàng “lột xác” để gương
mặt rạng ngời của Chúa Kitô Phục Sinh tiếp tục sáng lên trong cuộc đời
của mỗi Kitô hữu, nhất là cuộc đời của mỗi anh em linh mục chúng ta.
Như
vậy thật là thích hợp, để chúng ta vừa lắng nghe sứ điệp Lời Chúa được
công bố trong thánh lễ nầy để kín múc từ đó những điểm qui chiếu cho
cuộc đời thánh chức, vừa trở về nguồn cội những “cây cao bóng cả” các
bậc cha anh để tìm lại những hành trang quí báu cho cuộc hành trình
sống chức linh mục trên những nẻo đường mục vụ hôm nay.
I. LINH MỤC: CHỨNG NHÂN CỦA ĐỜI SỐNG KHÓ NGHÈO :
Trước
hết, trích đoạn của sách sứ ngôn Giêrêmia sau khi đưa ra 2 mẫu người
với chọn lựa cuộc sống cùng với kết quả của sự chọn lựa đó:
Mẫu 1): Chọn người đời làm điểm tựa:
Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời,
lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa,
và lòng dạ xa lìa Đức Chúa.
Kết quả: Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa.
Chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ…
Mẫu 2). Chọn Thiên Chúa làm điểm tựa:
Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa,
Và có Đức Chúa làm chỗ nương thân
Kết quả: Người ấy như cây trồng bên dòng nước
Đâm rễ sâu vào mạch suối trong…
Trong
khi đó, với dụ ngôn “Ông phú hộ và anh Lagiarô ăn mày”, Chúa Giêsu cũng
đưa ra hai mẫu người cùng với kết cục cuộc đời của họ:
Mẫu 1: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vó, ngày ngày yến tiệc linh đình….”
Kết cục cuộc đời: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình…”
Mẫu 2: “Người nghèo khó La-da-rô, mụn nhọt đầy mình…thèm được những thứ trên bàn ăn…”
Kết cục cuộc đời: “Thiên thần đem vào lòng ông Abraham…”
Như
vậy chúng ta thấy quá rõ ràng dụng ý của bàn tiệc Lời Chúa hôm nay: mời
gọi chúng ta đứng về phía của những người đặt niềm tin nơi Chúa, về
phía của những người nghèo của Giavê (anawim). Thật ra, tư tưởng và
hình ảnh “người nghèo của Giavê” gần như đã âm vang suốt chiều dài của
lịch sử cứu rỗi, xuyên qua sứ điệp của các ngôn sứ như Ê-dê-ki-en,
A-mốt, I-sa-ia, Giê-rê-mi-a…; và đặc biệt nổi bật lên qua lời cầu
nguyện và thái độ tâm hồn được diển tả qua những lời thánh vịnh:
“Chúa là Đấng nhân từ chính trực,
Chỉ lối cho tội nhân,
Dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính
Dạy cho biết đường lối của Người”… (Tv 25,8-9)
“Người giải thoát bần dân kêu khổ
Và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
Chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,
Giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn…” (Tv 72, 12-13)
Chúa là Đấng nhân từ chính trực,
Thiên Chúa chúng ta một dạ xót thương,
Hằng gìn giữ những ai bé mọn…” (Tv 116,5-6)
để
cuối cùng cô đọng lại như điểm qui chiếu chung kết là “Con đường Bát
Phúc” của Tân ước trong loạt bài giảng trên núi của Chúa Giêsu: “Phúc
cho ai có tâm hôn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,1), hay được
cụ thể hóa cách sống động nơi những mẫu người “nghèo” điển hình như Đức
Trinh Nữ Maria, thánh Giuse, ông bà Giacaria và Isave, Gioan Tẩy giả,
các mục đồng thành Bê lem…và tiếp sau đó là những Tông đồ sẵn sàng bỏ
lưới bỏ thuyền, cha mẹ vợ con, bỏ cả “túi tiền nơi bàn thu thuế”… để
lang thang với vị tiên tri “không có viên đá gối đầu”, những người như
Maria Bêtania sẵn sàng đập bể bình dầu cam tùng để xức chân Chúa, như
Giakê sẵn sàng đem nữa tài sản phân phát cho người nghèo và đền gấp bốn
những thiệt hại…, những người nghèo đến độ danh dự, phẩm giá, cuộc đời
chỉ còn đọng lại nơi những giọt nước mắt sám hối rơi trên chân Chúa như
Maria Mađalêna, hay đó là những trẻ em, những người nghèo được dành chỗ
ưu tiên trong Vương Quốc Nước Trời (Mt 18,1-4), và cuối cùng, dó là
người nghèo nhất trong những người nghèo của nhân loại: Giêsu
Na-da-rét, người tử tội bị đóng đinh giữa hai người trộm cướp, chết
trần truồng không mảnh áo che thân…
Nếu đem hai chữ “khó
nghèo” áp dụng vào đời sống và sứ vụ của các linh mục, thì quả thật
Giáo Hội có cả một kho tàng giáo huấn và kinh nghiệm, mẫu gương và
chứng tá, của gần 2000 năm lịch sử. Xét về mặt giáo huấn, chúng ta chỉ
cần đọc lại nguyên số 30, chương III trong Tông Huấn “Pastores dabo
vobis” của Đức cố ĐGH G.P. II, sẽ gặp được những chỉ dẫn cơ bản và cần
thiết như:
- Nghèo khó của linh mục đó là “đem mọi của cải
(tous les biens) tùng phục Của Cải tối thượng (Bien suprême) là Thiên
Chúa và Vương quốc của Ngài”.
- Nghèo khó của linh mục đó là:
“tự do sử dụng những của cải ấy và đồng thời vui vẻ khước từ chúng với
một trạng thái ứng trực nội tâm, đối với Thiên Chúa và đối với những kế
hoạch của Ngài”.
- Linh mục khó nghèo đó là “linh mục phải coi
người nghèo và những người yếu đuối nhất như là được giao phó cho mình
một cách đặc biệt, và phải có khả năng nêu chứng tá nghèo khó bằng một
đời sống giản dị và khắc khổ, vì đã quen từ bỏ một cách quảng đại những
gì là dư thừa” (Optatam totius, ĐT số 9; GL khoản 282”, là người “nêu
chứng tá về một sự “trong suốt” hoàn toàn trong việc quản trị tài sản
cộng đoàn….sẽ không bao giờ xử sự như thể tài sản ấy là gia sản riêng
tư của mình, nhưng như những gì mà mình phải thanh thỏa trước mặt Thiên
Chúa và trước mặt anh em mình, nhất là trước những người nghèo”.
-
Linh mục sống khó nghèo cũng có nghĩa là: “biết chú tâm tới những người
bé nhỏ, tới các tội nhân, tới hết mọi người sống ngoài lề xã hội, theo
như mẫu mực mà Đức Giêsu đã để lại trên bước đường thừa tác vụ ngôn sứ
và tư tế của Ngài” (x. Lc 4,18).
- Và Tông huấn cũng đưa ra một
dấu chỉ để đánh giá một linh mục thực sự biểu hiện đức khó nghèo trong
xã hội hôm nay: “Một linh mục thực sự nghèo khó chắc chắn sẽ là dấu chỉ
cụ thể cho sự cách biệt, cho sự chối từ chớ không phải cho sự lụy phục
đối với bạo quyền trong thế giới đương thời là thế giới đặt trọn niềm
tin cậy của mình nơi tiền bạc và nơi sự an toàn vật chất”.
Ôn
lại sứ điệp Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội như thế để điều chỉnh
lại cuộc sống linh mục, chắc chắn không phải là chuyện dư thừa trong
cuộc tĩnh tâm nầy. Bởi vì, hơn lúc nào hết, trong xã hội Việt nam hôm
nay, đang cần những “chứng nhân của đời sống khó nghèo”, một “loại hình
chứng nhân” xem ra trở thành của quý hiếm trong một xã hội đua đòi, hào
nhoáng, phương tiện và sự hưởng thụ giàu sang…
Có một điều may
mắn, trong dòng chảy truyền thống của hàng ngủ linh mục giáo phận Qui
Nhơn, quả thật, chúng ta không thiếu những chứng từ sống động về đời
sống khiêm hạ, khó nghèo.
II. NHỮNG CHỨNG TỪ CỦA CHA ÔNG:
Hôm
nay, trong thánh lễ nầy, khi tưởng nhớ và cầu nguyện cho các Đấng Giám
Mục, linh mục, phó tế của giáo phận đã an nghỉ, quả thật, chúng ta như
thấy sống lại bao chứng từ sống động của các vị cha anh, chúng ta như
chiêm ngưỡng được cái uy hùng, ngất ngưỡng của những cây cao bóng cả.
Quả thật, với chòm râu nhân từ của ĐC Dominicô, của cha già Đức, với
mái tóc bạc thân thương của ĐC Phaolô, cùng với những gương mặt, nụ
cười hiền lành, dễ mến của Quý cha già Tiên, cha già Hiến, cha già
Châu...chúng ta không chỉ được chuyển tải một giá trị bằng hình tượng
khả giác, nhưng là cả một gia tài tinh thần cao quí. Đó chính là lòng
nhân từ, sự hiền lành, nhân đức khiêm nhu. Nếu mọi linh mục hôm nay đều
toát lên nơi gương mặt của mình, tỏa sáng trong nụ cười và cung cách
ứng xử của mình cái chất “hiền lành, khiêm nhu” của các bậc Cha ông khả
kính đó thì đẹp biết bao, dễ sống với nhau biết nhường nào và chắc chắn
cũng thành công mục vụ không ít.
Và nếu cần những chứng từ của
một đời linh mục giản đơn, khó nghèo để chúng ta noi gương mà trụ vững
giữa một xã hội ngập tràn những cơn cám dỗ của hào nhoáng và phương
tiện, của đua đòi và lãng phí, của hưởng thụ và giàu sang...thì chúng
ta hãy đọc lại cuộc đời của Cha Tám Ân, Cha Bùi Huy Bích, cha Giacôbê
Nguyễn Thành Tri...Các Ngài giảng đạo, truyền giáo đôi khi chỉ chỉ cần
một chiếc võng để đong đưa giấc ngủ trong một mái tranh nghèo; các ngài
đi đến với đàn chiên từ xóm nầy qua làng nọ đâu cần phải “ngựa xe kiệu
lọng” mà chỉ cần một chiếc xe đạp cà tàng hay chiếc gắn máy cũ kỷ. Làm
mục vụ ở giữa đám dân gầy “liên khu 5” thường xuyên đối mặt với chiến
tranh loạn lạc, với bảo lụt triền miên…nên đối với các ngài, một chiếc
áo rách vai, một chiếc quần bà ba cũ kỷ bạc màu lại dễ tiếp cận giáo
dân và lương dân hơn là phong cách đạo mạo, quý phái của những bậc quan
quyền phong kiến.
Đó không là chứng từ của sự khó nghèo linh mục
hay sao ? Rồi cũng từ cái phong cách giản đơn, khiêm tốn, thanh bần đó,
hàng linh mục Qui Nhơn lại được tài bồi thêm những giá trị nhân bản quý
giá: sống nghĩa tình huynh đệ, sống nghĩa khí bạn bè, sống thân tình sư
đệ, sống yêu thương phụ tử. Từ thế hệ linh mục cận kề mới đây như Cha
F.X. Nguyễn Xuân Văn, Cha Tổng Đại Diện Anrê Huỳnh Thanh Khương... cho
đến thế hệ của các cây đại thụ tiền bối như cha Châu, Cha Đại, Cha Tám
Ân...đã để lại những dấu ấn không phai mờ về tình huynh đệ, về cái chất
dung dị hòa đồng, về tâm tình cảm thông, liên đới, sẻ chia trong cuộc
đời linh mục.
Quả thật, chúng ta có cả một cội nguồn phong phú,
những cây cao bóng cả tuyệt vời. Nếu ai đó cố tình cắt đứt cái truyền
thống Qui Nhơn tốt đẹp cao quý nầy thì e rằng sẽ biến mình thành một
linh mục cô đơn, nghèo nàn, nếu không nói là biến chất, đánh rơi căn
tính.
Kính thưa…
Sứ điệp Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay
quả là thích hợp để khơi lên trong chúng ta ý chí và tình yêu để tiếp
tục chọn lựa sự khó nghèo của Phúc Âm, chọn lựa đánh cuộc đời mình
trong sự phó thác và đặt điểm tựa hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Chắc chắn,
có một sức mạnh vô hình sẽ giúp chúng ta kiên vững trong chọn lựa khó
khăn nầy, đó chính là sự hiện diện của Vị Mục Tử Chí Thánh Giêsu, Đấng,
mà nhờ bàn tay và miệng lưỡi đớn hèn nhân loại của chúng ta, sẽ hiện
diện trên bàn thờ nầy qua hình bánh rượu.
Chính trong tâm tình
khiêm hạ, khó nghèo, chúng ta có thể cùng nhau đọc lại bức thư của thầy
A. Roncalli (tức ĐGH Gioan XXIII) gửi thăm ba má:
“Đại chủng viện Rôma, ngày 16.01.1901,
Trọng kính thăm Ba Má, Bác Hai, Cậu và anh chị.
Khi
thư nầy đến nhà, chắc cả nhà đang sốt sắng dự tuần đại phúc mở tại họ
đạo; và con mong rằng tất cả đã sốt sắng lo việc phần hồn, xây dựng
hạnh phúc vĩnh cửu.
Con không cầu cho gia đình được giàu sang, chỉ
xin cho mọi người trở nên Kitô hữu tốt, sống nghèo khó, bằng an, phó
thác trong tay Chúa Quan phòng.
Con lấy làm vinh dự sống trong cảnh
nghèo của gia đình mình, không bánh mì chỉ ăn cháo, không bao giờ biết
đến thịt, có chăng là đôi ba dịp trong năm. Lễ Giáng Sinh thì được thẻo
bánh má tự làm. Tuy nhiên, dù gần 20 đứa lớn bé đang chờ chực đĩa cháo,
nhưng nếu có người đến ăn xin, má vẫn mời họ vào bàn chia bữa ăn với
chúng con…
Chúa muốn con làm linh mục không vì giàu sang. Nếu thế
thì thật là khốn nạn. Con sẽ làm linh mục để phục vụ người nghèo. Con:
Angelo”.
Ước gì lời quyết tâm của Đức cố GH Gioan XXIII cũng
là lời quyết tâm của tất cả anh em linh mục chúng ta hôm nay: Con sẽ
làm linh mục để phục vụ người nghèo.”. Amen
Theo LM. Giuse Trương Đình Hiền
Vietcatholic News