Năm
Thánh Linh Mục
19.6.2009 - 19.6.2010
Năm linh mục: các nghịch lý và tương quan
Ngày 4 tháng Sáu, trên tờ “The Catholic Standard and Times” của Tổng
Giáo Phận Pensylvania, Mỹ, Đức Hồng Y Justin Rigali, Tổng Giám Mục của
TGP này, có viết một bài về Năm Linh Mục.
Theo
Đức Hồng Y, vị giáo hoàng đầu tiên biết tới nghệ thuật chụp ảnh là Đức
GH Piô X. Các bức hình chụp vị giáo hoàng này phần nhiều cho thấy ngài
đang giảng Phúc Âm cho giáo dân Rôma, dạy giáo lý cho trẻ em, những
việc mà người ta vốn nghĩ là “nghề” của các cha xứ vùng quê. Điều ấy
không có gì lạ. Bởi Đức Piô X từng là một cha xứ vùng quê như thế. Và
dù ngài có làm giám mục, tổng giám mục, hồng y và giáo hoàng đi chăng
nữa, thì “cốt cán” của ngài vẫn là tâm hồn và phong thái của một cha
xứ, làm mọi công việc theo cung cách ấy. Trên bàn làm việc của ngài,
ngoài tượng chịu nạn, không còn gì khác ngoài một bức tượng lớn. Hình
ảnh bức tượng này không phải của một Thánh Tông Đồ hay một Thánh Tiến
Sĩ vĩ đại nào đó, mà là của một cha xứ miền quê. Tên vị cha xứ ấy là
Gioan Maria Vianney. Chính Đức Piô X phong á thánh cho vị cha xứ này
năm 1905. Tước hiệu Quan Thầy Các Cha Xứ của vị thánh này thì do một vị
giáo hoàng khác, Đức Piô XI (1922-1939), công bố. Chính vị giáo hoàng
này đã phong hiển thánh cho ngài vào năm 1925.
Việc ấy âu cũng
là một nghịch lý vì ai cũng biết Đức Piô XI vốn là một học giả, cựu
quản thủ thư viện, người luôn miệt mài nghiên cứu khoa học, từng ký kết
nhiều tông hiệp (concordat) có tính quốc tế quan trọng, trong đó có Reichskonkordat nổi
tiếng với Đức, và nhất là hiệp ước Latran năm 1929 với Ý thiết lập ra
Thị Quốc độc lập Vatican năm 1929 với ngài là quốc trưởng đầu tiên.
Ngài từng vận động hết sức để tránh việc sát hại hàng loạt Kitô hữu tại
Mễ Tây Cơ, Tây Ban Nha và nhất là Nga Xô, nhưng không thành. Ngài cực
lực lên án cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn chủ nghĩa Quốc Xã nhưng không được
sự hợp tác của các nền dân chủ Phương Tây, một thái độ bị ngài gọi là
Âm Mưu Im Lặng (nực cười là một số người theo chủ nghĩa Xion đã dùng
chính thuật ngữ này để gán ghép cho người kế vị ngài là Đức Piô XII).
Nhà học giả và hoạt động không mệt nghỉ ấy vẫn tôn kính hình ảnh khiêm
nhu thánh thiện của Cha Xứ Họ Ars.
Họ Ars là một họ đạo chỉ có
230 giáo dân lúc cha Gioan Maria Vianney đến đó nhận nhiệm sở. Đầu óc
vị giám mục bản quyền chắc nghĩ: khả năng cha Vianney chỉ đến thế là
cùng, chăm sóc một nhúm giáo dân 230 người. Trong bầu khí vẫn còn bị
nhiễm độc bởi Cách Mạng Pháp, một cuộc cách mạng hoàn toàn sổ lồng lòng
thù hận đối với Giáo Hội do những con người tự hào là đem ánh sáng lại
cho nhân loại, thì một người ‘dốt nát’ như Vianney, phỏng làm được gì
khác ngoài cái giáo xứ ‘khỉ ho cò gáy’ này? Nhưng đúng như cha chính
giáo phận của cha từng nói: Giáo Hội cần nhất các linh mục thánh thiện,
nên những linh mục như Cha Vianney mới thực sự cần cho nước Pháp thời
hậu cách mạng. Bởi nước Pháp ấy đã chán ngấy một Giáo Hội phách lối,
kênh kiệu với hiểu biết của mình, nhưng sống không phù hợp với những
điều hiểu biết ấy. Nhờ thế, Cha Vianney đã được chào đón nồng nhiệt,
chiếm được lòng người và ồ ạt dẫn họ trở về với Chúa và Giáo Hội. Đến
năm 1855, những người kéo nhau tìm gặp cha xứ họ Ars lên đến hơn 20
ngàn người một năm, biến giáo xứ Ars thành một trung tâm sinh hoạt đạo
đức sầm uất.
Năm nay, kỷ niệm năm thứ 150 ngày sinh của Cha Xứ
Họ Ars, lại một nghịch lý khác xẩy ra: một vị giáo hoàng học giả khác
cũng lưu ý tới vị thánh nhà quê, ‘dốt nát’ này. Không ai chối cãi việc
Đức Bênêđíctô XVI được coi là một trong những đầu óc vĩ đại nhất của
thời đại ta: Hơn 20 năm làm giáo sư đại học, 4 năm làm chuyên viên của
Công Đồng Vatican II, sáng lập viên tạp chí thần học Communio
từ 1972, cùng với Hans Urs von Balthasar và Henri de Lubac, hơn 20 năm
làm bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, người cầm cương cho nền chính
thống Công Giáo và là lý thuyết gia trên thực tế của Tòa Thánh Vatican;
nói thông thạo tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh, và tiếng Latinh; còn đọc
được cả tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hy Lạp Cổ, và tiếng Hibálai; hội viên
của nhiều hàn lâm viện trong đó, có Hàn Lâm Viện Khoa Học Luân Lý Và
Chính Trị (Académie des sciences morales et politiques) của Pháp.
Nhưng, trong tư cách linh mục (cốt lõi của bất cứ vị giáo hoàng nào
cũng là linh mục), thì mẫu người lý tưởng vẫn là Cha Xứ Họ Ars. Không
những Đức Thánh Cha Bênêđíctô cho mở Năm Linh Mục nhân kỷ niệm 150 năm
ngày sinh của vị thánh này, mà còn sẽ phong cho vị thánh này làm Bổn
Mạng Mọi Linh Mục, bất cứ làm cha xứ hay không, bất cứ thông thái hay
không và bất kể có đạo đức hay không.
Bốn chiều kích thánh thiện của linh mục
Theo
Đức Hồng Y Rigali: lý do khiến vị giáo hoàng học giả chú ý tới vị thánh
toan không được chịu chức linh mục chỉ vì học quá kém này là vì Đức
Thánh Cha Bênêđíctô XVI không phải chỉ có hiểu biết tri thức mà còn
biết rõ tầm quan trọng của sự thánh thiện. Tầm quan trọng này ngài học
được do kinh nghiệm các biến cố long trời lở đất của năm1968, lúc các
sinh viên toàn thế giới đứng lên toan phá bỏ trật tự cũ để thiết lập ra
một thế giới mới biết trung thực với chính mình, biết nói trắng là
trắng, nói đen là đen, biết giữ cho mình toàn vẹn, không bị tâm thần
phân liệt (schizophrenia), sống nước đôi hai mặt. Thánh thiện chính là
toàn vẹn. Chỉ có mẫu người ấy mới nói truyện được với con người thời
nay, nhất là giới trẻ.
Có điều, sự thánh thiện của linh mục
không có tính cá thể. Khi công bố Năm Linh Mục, Đức Bênêđíctô XVI nhấn
mạnh tới việc các ngài phải sống sứ mệnh mình giữa lòng Giáo Hội và để
phục dịch Giáo Hội. Sứ mệnh ấy vì thế có đến bốn chiều kích: giáo hội,
cộng đoàn, phẩm trật và hợp tín lý. Giáo hội, vì không linh mục nào
được công bố mình ở ngôi thứ nhất; mọi linh mục phải ý thức rõ mình
đang đại diện cho một Người Khác có tính thế giới, cho chính Thiên
Chúa. Người phải là kho báu duy nhất người ta thèm muốn tìm thấy nơi
linh mục. Sứ mệnh linh mục phải có tính cộng đoàn, vì nó được thi hành
trong hiệp nhất và hiệp thông với toàn thể Giáo Hội. Đàng khác, sự hiệp
nhất và hiệp thông kia chủ yếu phát sinh từ việc sống thân mật với
Thiên Chúa, một sự thân mật mà linh mục được mời gọi trở nên chuyên
viên chuyên nghiệp, đến có thể dẫn dắt các linh hồn đã được giao phó
cho mình đến cùng một cuộc gặp gỡ ấy với Chúa một cách khiêm nhu và đầy
tin tưởng. Sau cùng, sứ mệnh ấy phải có tính phẩm trật và hợp tín lý,
nghĩa là phải biết tái khẳng định tầm quan trọng của kỷ luật, huấn
luyện về tín lý cũng như đào luyện về thần học và liên tục tu nghiệp
(Xem Bài Diễn Văn cho nhân viên Thánh Bộ Giáo Sĩ nhân ngày công bố Năm
Linh Mục, 16 tháng Ba năm 2009).
Trái Tim Chúa Giêsu
Theo
Đức Hồng Y Rigali, không phải là tình cờ mà Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI
chọn Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu làm ngày khai mạc Năm Linh Mục. Vì Thánh
Gioan Vianney từng nói: “Chức linh mục chính là tình yêu trong Thánh
Tâm Chúa Giêsu”. Thành ra ba thực tại: Thánh Tâm, Chức Linh Mục và
Thánh Gioan Vianney có tương quan mật thiết với nhau. Tình yêu trong
Thánh Tâm Chúa Giêsu lên cực điểm trong hai biến cố Tiệc Ly và Cái Chết
của Chúa Giêsu. Người tiếp cận “giờ” của Người một cách đầy âu lo.
Người nói với các môn đệ rằng: “Thầy rất ước ao được ăn Lễ Vượt Qua này
với các con trước khi Thầy chịu đau khổ” (Lc 22:15).
Phúc Âm
Thánh Gioan nói với ta rằng Chúa Giêsu “yêu thương những kẻ thuộc về
Người còn ở thế gian này và Người thương yêu họ cho đến cùng” (Ga
13:1). Tình yêu của Người đổ tràn ra khi Người ban cho các Môn Đệ, và
cho tất cả chúng ta, chính con người của Người trong Phép Thánh Thể.
Điều này nhắc ta nhớ rằng tình yêu của Chúa Giêsu không hề ở thế tĩnh.
Nó luôn sống động và bền bỉ. Ta cũng được nhắc nhở rằng ta không phải
chỉ tin vào một cuốn sách hay một bộ lề luật, mà ta cũng không chỉ tin
vào một định chế. Nhưng trước nhất, ta tin vào một người, là chính Chúa
Giêsu, Đấng đã yêu thương ta bằng một tình yêu đời đời và mời gọi ta
yêu Người trở lại bằng một tình yêu cá thể và có tính bản thân. Ta yêu
Lời của Người, các giới răn của Người và cả Giáo Hội của Người nữa vì
tất cả đều là những vươn dài của chính Người.
Vì tình yêu của
Chúa Giêsu sống động và bền vững, nên nó cần được tiếp diễn trên thế
giới cho đến ngày tận cùng. Thánh Thể chính là món quà tiếp diễn của
Tình Yêu Chúa Giêsu. Theo kế hoạch Thiên Chúa, Sự Hiện Diện Thánh Thể
xuất hiện qua Chức Linh Mục. Chúa Giêsu đã chọn một phương thế tuyệt
hảo để ban tình yêu của Người cho ta trong Thánh Lễ, trong Hiệp Lễ và
trong Nhà Chầu. Người sử dụng các dụng cụ nhân bản, các con người bất
toàn, những người được Người kêu gọi tiếp tục vai trò và sứ mệnh của
các Tông Đồ, thực hiện việc Người đã làm. Suốt hai ngàn năm qua, “ơn
phúc và mầu nhiệm” này, thuật ngữ được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II dùng để chỉ chức linh mục, đã được thông truyền cho những ai được
Thiên Chúa kêu gọi cách mầu nhiệm để Tình Yêu của Người được khắp thế
gian biết tới nhờ Lời của Người và nhờ Lời đã thành Nhục Thân trong
Phép Bí Tích Cực Trọng.
Một cách khác để nhìn Năm Linh Mục là
lời của Đức Hồng Y Claudio Hummes, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ, suy niệm
về năm này rằng năm nay sẽ là một dịp tốt để mọi người biết đánh giá
căn tính linh mục, nền thần học về chức linh mục Công Giáo, và ý nghĩa
phi thường của ơn gọi và sứ mệnh linh mục trong Giáo Hội và trong xã
hội, với sự tham dự nồng nhiệt của giáo dân Công Giáo, những người rất
qúy yêu các linh mục của họ và muốn thấy các ngài được hạnh phúc, thánh
thiện và hân hoan trong các lao nhọc tông đồ hằng ngày của các ngài.
Theo Vũ Văn An
Vietcatholic News