Năm
Thánh Linh Mục
19.6.2009 - 19.6.2010
Căn cước tính đời Linh Mục
Từ
khi Chúa Giêsu kêu gọi 12 Tông đồ và truyền chức Linh mục cho họ trong
Bữa Tiệc ly trước khi chịu đau khổ vác thập gía cho tới bây giờ, đời
sống Giáo Hội Chúa đã trải qua hơn hai ngàn năm trên trần gian. Trong
dòng thời gian này, Chúa vẫn hằng phát đi tiếng kêu gọi con người sống
dấn thấn làm việc cho khu vườn đức tin của Chúa trong vai trò chức vụ
Linh mục. Và số người ( trẻ ) đáp lại tiếng Chúa kêu gọi luôn luôn liên
tục khi lên cao điểm, khi khủng hoảng xuống thấp trong đời sống Giáo
Hội.
Những người trẻ đáp lại tiếng Chúa kêu gọi với lòng nhiệt
tâm hăng say phấn khởi. Nhưng không vì thế mà họ không gặp khó khăn thử
thách khi chọn muốn sống dấn thân theo tiếng ơn kêu gọi làm linh mục.
Đến khi họ đạt đến đích điểm trở thành Linh mục, đời sống cũng không
đơn gỉản đi phần nào. Trái lại có phần phức tạp hơn, nhiều thách đố khó
khăn hơn. Vì linh mục phải chiến đấu với chính bản thân mình, với những
dằng co về bản tính con người, với khung cảnh văn hóa đời sống xã hội
sao cho nhân bản tình người, sao cho xứng hợp trung thành với lời đoan
hứa ngày chịu chức Linh Mục: Adsum! – Này con đây, xin sẵn sàng !
Và
trong thinh lặng khi suy nghĩ về chức Linh mục, họ cũng không khỏi gặp
nhiều thắc mắc, bỡ ngỡ, đôi khi lúng túng không biết rõ thế nào là bản
chất đích thực con người Linh mục.
1.Tấm thẻ căn cước
Ngày
nay mọi người ở mọi đất nước, ai cũng có thẻ căn cước, thẻ chứng minh
nhân dân. Không có tấm thẻ này, bị kể là người bất hợp pháp, không có
quyền công dân trong đất nước đó. Trong các hãng xưởng cũng thế, không
có thẻ này không thể vào trong hãng được. Còn Linh mục, sau khi trở
thành Linh mục cũng nhận được tấm thẻ căn cước Linh mục do tòa Gíam Mục
cấp chứng nhận.
Phải chăng Linh mục cũng cần thẻ căn cước chứng
minh là Linh mục? Trong trường hợp hồ nghi hay thanh tra kiểm soát, tấm
thẻ này là giấy tờ chứng minh cần thiết.
Như vậy, phải chăng tấm
thẻ này chứng minh tất cả: Ông là Linh mục ? Không hẳn là như thế. Vì
con người không thể đơn giản chứng minh bằng một tờ giấy chứng thư. Bản
chất con người còn sâu xa, lớn hơn, có gía trị cao qúy hơn tấm thẻ căn
cước nhiều.
Vậy đâu là căn cước tính đời linh mục?
2. Tôi là ai?
Đây
là thắc mắc có lẽ từ khi Chúa Giêsu lập chức Linh mục, và người ta sẽ
còn thắc mắc mãi về vấn đề này trong dòng thời gian. Thắc mắc này cũng
có thể phản ảnh cơn khủng hoảng về chức Linh mục hiện nay bên xã hội
phương tây. Nhưng thắc mắc này cũng là nhu cầu nội tâm của con người,
khi họ suy nghĩ hồi tâm về cuộc đời linh mục của mình. Thắc này theo
tôi nghĩ là câu hỏi: Tôi là ai? Tôi là gì?
Câu trả lời cho thắc
mắc này mang nhiều sắc thái khác nhau. Nếu theo khả năng sức lực, câu
trả lời sẽ bao hàm những gì ta có cùng có thể làm được, như khả năng ăn
nói, viết lách, giảng dạy, điều khiển tổ chức, có sức hấp dẫn thu hút
người khác…
Nếu theo căn cứ bản chất con người, câu trả lời sẽ
không căn cứ trên những gì có ( habeo). Tôi không thể trả lời tôi là
linh mục, vì tôi có chức Linh mục, đồng nghĩa với những năng quyền Chúa
và Giáo Hội ban cho tôi! Câu trả lời như thế giáo điều và qúa đơn giản.
Nhưng phải căn cứ trên một nền tảng khác. Nền tảng đó là bản chất
(esse) con người của ta.
Làm thế nào tôi nhận ra bản chất con
người của tôi? Câu hỏi này có liên quan đến nền tảng đức tin. Và như
thế không thể tìm được câu trả lời từ chính tôi. Vì đời sống tôi không
bắt nguồn từ tôi. Nhưng nguồn đó ở trên tôi, tận trong tâm hồn tôi, và
là cùng tận đời tôi, là Alpha và Omega.
Nguồn đó là nhân vị đời
tôi. Đã là nhân vị, tôi không thể nào tự mình qua gắng sức, qua tài
khéo léo thành tích cá nhân hay bằng cấp sản xuất làm ra được.
Nhân vị đời tôi, tôi nhận được từ Nguồi đó. Và ngoài Nguồn đó, không ai là con người như tôi, có thể cho tôi điều đó được.
3. Ego eimi – chính là tôi!
Trước
tòa xét xử, khi bị chất vấn về căn cước tính con người của Chúa Giêsu:
Ông có phải là Giêsu thành Nazareth, Ông có phải là Đấng Cứu thế, con
Thiên Chúa không? Chúa Giêsu luôn luôn khẳng định: Ego eimi – Phải
chính là tôi đây! (Mc 14,61-62; Ga 4,25-26; 18,5-8).
Người bị mù
lòa từ khi lọt lòng mẹ vẫn ngồi ăn xin trứơc cửa đền thờ, sau khi được
Chúa Giêsu chữa cho lành bệnh sáng mắt trở lại - nhân vị con người được
trả lại – đã nhất mực trả lời cho những người nghi ngờ căn cước tính
của mình: Ego eimi - Phải chính là tôi đây!, chứ không người nào khác
giống tôi đâu! …Tôi biết ơn và tuyên xưng niềm tin vào Ông Giêsu, là
Thiên Chúa. Chính Ông ta đã chữa cho tôi lành bệnh sáng mắt trở lại (Ga
9,1-40).
Ông Phero đã đánh mất căn cước tính con người của mình
khi Ông chối bỏ không thuộc về Chúa Giêsu, khi bị một người canh cổng
chất vấn: ouk eimi – Không tôi không thuộc về Ông ta! Tôi không biết
Ông ta là ai!
Chối bỏ như thế, Ông đã đánh mất mối liên hệ với
Chúa Giêsu, Thầy của mình. Và vì thế căn cước tính của Ông cũng bị mất.
Nhưng sau khi mối liên hệ Thầy trò được nối lại trở lại qua ánh mắt
nhìn của Thầy Giêsu, cùng lòng ăn năn hối lỗi của mình, Ông đã tìm lại
được điều Ông đã đánh mất: căn cước tính của mình. ( Lc 22,54-62).
Như
thế, có thể nói, căn cước tính con người của linh mục, chính là người
tin theo Chúa Giêsu cho dù những yếu đuối tội lỗi, khiếm khuyết thua
kém…trong mọi hoàn cảnh vẫn một mực không chối bỏ Ngài.
Cho dù trí tuệ không hiểu biết gì nhiều về Ngài. Nhưng vẫn một lòng trung thành với Ngaì.
Cho
dù gặp khó khăn cô đơn, bị thử thách hiểu lầm trong đời sống hay đức
tin bị lung lay hồ nghi về Thầy Giêsu của mình, vẫn luôn tin rằng Thầy
Giêsu là nguồn nhân vị đời ta, và Ngài không bỏ rơi ta, như trường hợp
người mù lòa được chữa lành và Ông Phero.
Thần học gia Tin Lành
D. Bonhoeffer trong ngục tù thời Đức quốc xã, khi suy nghĩ về căn cước
tính con người của mình, đã thốt tâm tình thành lời cầu nguyện: „Wer
ich auch bin, Du kennst mich, Dein bin ich, O Gott - Lạy Chúa, là cha
đời con, Cha biết con là ai, dẫu thế nào con vẫn thuộc về Cha!“
4. Amor ergo sum!
Đó
là chiều hướng thượng giữa Linh mục với Chúa. Nhưng linh mục còn đang
sống trên mặt địa cầu với mọi người, họ cũng là con Chúa như ông. Vậy
thế đâu là căn cước tính con người linh mục, một thụ tạo của Thiên Chúa
có thân xác và trí khôn?
Câu định nghĩa thời danh Amor ergo sum!
Tôi được yêu, vì thế tôi có mặt! có thể giúp nhận chân ra căn cước tính
con người của linh mục trong đời sống xã hội con người.
Được
Chúa yêu thương kính trọng trong cộng đồng Giáo Hội như bao anh chị em
khác qua Bí tích Rửa tội, linh mục cùng liên kết với mọi người tín hữu
Chúa Kitô trong đức tin, qua ân đức của Thiên Chúa. Linh mục luôn mãi
là người đã nhận lãnh làn nước Bí tích rửa tội, và tin vào Thiên Chúa
như các người tín hữu Chúa Kitô khác đã cùng lãnh nhận làn nước bí tích
rửa tội. Đó là điều quan trọng hơn hết và là chức Linh mục căn bản.
Nếu
niềm tin này, chức Linh mục này không bén rễ sâu, không phát triển
trong tâm hồn, thiết tưởng những gì gọi là việc làm của người có chức
linh mục trong Giáo Hội cơ chế hữu hình, sẽ thiếu nền tảng và sai lạc
hướng.
5. Niềm hy vọng
Công đồng Vatican thứ hai
đã định nghĩa căn cước tính cho việc mục vụ của Giáo Hội Chúa Giêsu ở
trần gian: „ Vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo âu của con người ngày
hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị ruồng bỏ quên lãng, cũng là
niềm vui, hy vọng nỗi lo buồn của Môn đệ Chúa Kitô. Không thể nói là
nhân bản, khi những ưu tư này không bén rễ tận trong tâm hồn, và không
gây được âm hưởng nơi tâm hồn ngưòi đối diện. Cộng đồng dân Chúa được
thành hình do con người cùng liên kết với nhau trong đức tin vào Chúa
Giêsu Kitô, vào Chúa Thánh Thần và họ đang cùng nhau trên đường về quê
hương trên trời nơi Thiên Chúa Cha ngự trị…“ ( Constitutio Pastoralis
de Ecclesia in mundo huius temporis – prooemium Nr.1)
Cuộc sống
linh mục lẽ tất nhiên phải hướng lên trời cao, nhưng không được quên
mình đang còn sống trên đường lữ hành với mọi người. Trước mặt Chúa,
linh mục cũng là con số không với hai bàn tay trắng, và còn đang sống
sinh hoạt trong khung cảnh văn hóa, phong tục tập quán của con người
thời đại.
Cuộc sống mục vụ mà thiếu chiều kích nhân bản tình
người, thiết tưởng không những không làm nhân chứng loan truyền Tin
Mừng của Chúa có hiệu qủa tốt cho con người, mà còn gây ra những hiểu
lầm gây thiệt hại nữa.
Đời sống linh mục mà chỉ dựa trên cảm
tính, như được kính trọng, được xưng hô là người quan trọng có quyền
hành, là người nghĩ rằng một mình làm được hết mọi chuyện, và cho đó là
căn bản yếu tính của linh mục, thiết tưởng không mang lại lợi ích tinh
thần giúp xây dựng đức tin gì cho con người.
Có câu chuyện ngụ
ngôn kể lại: “ Vào một ngày trong tháng năm, trên bầu trời trong xanh
yên gió, chim chóc tung cánh bay lượn ca hót líu lo. Thình lình xưất
hiện một con chim đại bàng bay chao đi chao lại giữa không trung. Chú
chim đại bàng lật trở mình nằm ngửa giơ hai chân lên trời, hai cánh
dương ra để giữ thăng bằng giữa khoảng không gian lơ lửng…
Chú
cò bay ngang thấy vậy, lấy làm lạ dừng lại ngắm nhìn và lên tiếng nói:
Này lão tiền bối! Ngài đang giở thế võ công gì vậy kỳ lạ qúa. Tôi chưa
thấy sự này bao giờ. Lão tiền bối còn sống hay đã chết mà sao nằm ngữa
lơ lửng giữa trời như vậy?
Chú chim đại bàng mắt lim dim trong
tư thế nằm ngửa ngó lên trời cao lên tiếng đáp lại: Ta đâu có chết mà
nhà người phải lo, phải hỏi như thế!
Chú cò hỏi lại: Thế sao lão tiền bối lại nằm ngửa giơ chân cẳng vó ngựa lên trời vậy?
Chú
chim đại bàng huênh hoang đối lại: Nhà người không nhìn thấy ta đang
làm gì đó sao. Ta đang trong tư thế giương hai chân ra chống đỡ bầu
trời. Vì nếu ta không làm như thế, bầu trời sẽ xập xuống và chúng ta
cùng mọi loài sẽ chết toi!
Vừa nói xong những lời tự cao tự đại,
bỗng dưng cơn dông gío to từ đàng tây kéo tới. Cây cối uốn mình theo
chiều gió nghiêng ngả tứ phía bật gốc rễ, cành lá bay rơi rụng khắp
nơi… Thế là chú đại bằng hoảng hốt co cụp đôi chân lại, lật xấp trở
mình theo tư thế bình thường, và vụt đôi cánh bay biến mất đáp xuống
lùm bụi cây bụi rậm gần đó để ẩn thân…
Chú đại bàng bay đi mất
dạng không còn ai chống đỡ bầu trời như chú nghĩ tưởng. Nhưng bầu trời
vẫn đứng vững bao che vạn vật từ thuở tạo thiên lập địa, dù có phải
trải qua bao cơn giông bão gió lớn…”
Nếu Tin Mừng của Chúa là
niềm hy vọng cho con ngưòi, thì linh mục người loan báo tin mừng đó
phải là chứng nhân sống niềm vui, niềm hy vọng cho người khác.
***
Linh
mục trong Giáo Hội Công giáo Roma theo nghi lễ Latinh buộc giữ đời sống
theo luật độc thân không lập gia đình. Xưa nay hầu như luôn có tranh
cãi, phải chăng luật độc thân linh mục cũng thuộc về ăn cước tính của
linh mục, nên linh mục phải sống như thế?
Điều này không là như
thế. Luật linh mục sống độc thân đã có một truyền thống lâu dài trong
Giáo Hội. Luật này do Giáo Hội Công Giáo đặt ra ngay từ thời thế kỷ thứ
tư và từ thế kỷ thứ 11. dưới thời các Đức giáo hoàng Leo thứ 9, đức
giáo hoàng Victor thứ hai và đức giáo hoàng Gregor thứ bảy đã luôn
khẳng định lại nhiều lần, cùng ra những chỉ thị chặt chẽ về luật buộc
này với tất cả mọi giáo sỹ trong Giáo Hội Công Giáo Roma.
Luật
linh mục sống giữ độc thân, tuy không là bản chất của chức Linh mục,
nhưng vừa là kỷ luật của Giáo Hội, vừa là nếp sống tu đức cùng mục vụ
đời sống Linh mục.
Nếp sống nào cũng cần phải có kỷ luật, cần
phải có hướng sống dấn thân hy sinh. Bậc sống Linh mục rao giảng làm
nhân chứng cho nước trời, cùng làm việc mục vụ hướng dẫn tinh thần đạo
gíao ban các phép Bí tích, cần nếp sống tu đức hy sinh ngay từ nơi bản
thân của linh mục là điều cần thiết. Điều này mang lại hiệu qủa thiêng
liêng cho chính bản thân linh mục và uy tín với người tín hữu trong
Giáo Hội.
Sống độc thân là một từ bỏ hy sinh trong đời sống của
một con người. Nhưng Linh mục chấp nhận và sống trung thành với kỷ luật
độc thân đời linh mục là góp phần gìn giữ căn cước tính đời linh mục,
cùng nói lên tình yêu mến gắn bó với Ơn kêu Gọi của Chúa cùng Giáo Hội
của người ở trần gian.
Điều này thuộc lãnh vực tinh thần thiêng
liêng như lạ thường khó hiểu với tâm trí con người chúng ta. Nhưng
David Ben Gurion có suy tư: « Người nào không tin vào điều lạ thường,
họ không biết đến thực tại. »
Năm Linh Mục 2009-2010
Theo
LM. Đaminh Nguyễn Ngọc Long
Vietcatholic
News
