Năm
Thánh Linh Mục
19.6.2009 - 19.6.2010
Thách đố Nhân bản trong cuộc đời Linh Mục
Theo truyền thống, linh mục được định nghĩa là “Alter Christus,” tức là
một Kitô thứ hai. Ngài mang trách nhiệm rao giảng và sống tin mừng của
Chúa qua ba bổn phận chính là tư tế, tiên tri và vương giả. Linh mục
mang trong mình ơn gọi thiêng liêng là ơn thiên triệu. Thiên triệu tức
là ơn gọi từ Trời. Để nhận ra ơn gọi hoặc ơn thiên triệu của mình, ứng
viên phải trải qua thời kỳ huấn luyện dài trong chủng viện. Tại nhiều
quốc gia như Việt Nam, khi xưa, trước khi bước vào đại chủng viện, tức
là “làm thầy” chủng sinh trải qua thời gian tiểu chủng viện. Nơi tiểu
chủng viện, chương trình “tập huấn” gian nan và nhiều thử thách có khi
còn hơn đại chủng viện. Câu thơ của Cao đài đại đạo Tam kỳ phổ độ “Bao
giờ chết bẩy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình” được sửa thành
“Bao giờ đuổi bẩy còn ba, đuổi hai còn một mới ra làm thầy” kể cũng
không sai cho lắm. Nhiều lớp tiểu chủng sinh, khi vào lớp sáu có 40
chú, đến hết lớp mười hai chỉ còn lại vài “mống loe ngoe.” Tuy hàng năm
vẫn được “tân tuyển” thêm dăm ba chú, nhưng “gọi thì nhiều mà chọn thì
ít” vẫn là câu châm ngôn cần thuộc lòng.
Làm sao biết mình có ơn gọi linh mục?
Thánh
kinh kể đến một vài trường hợp đẹp và khá lãng mạn khi tiếng đáp trả
của Samuel trở thành lời tuyên xưng dứt khóat: “Lậy Chúa, xin hãy phán,
vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.” Câu truyện thật đẹp. Chú bé “giúp
lễ” đang ngủ đêm, trong giấc mơ nghe thấy tiếng. Lúc đầu chú tưởng là
vị tư tế, tức là cha xứ, gọi, nhưng sau mới biết là Chúa. Chàng cương
quyết trả lời “Lạy Chúa, xin hãy phán”.
Đẹp và lãng mạn không
kém là thái độ của bốn chàng ngư phủ. Khi Chúa mời “Các anh hãy theo
tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ đánh cá người.” Bốn
chàng “lập tức, các anh bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Matthêu
5.; Mc. 1; và Luca 5). Ôi chao, nếu được Chúa hiện ra –dù trong giấc mơ
bảo rằng “Hãy theo Ta” thì dễ dàng quá. Trên thực tế, mơ thì nhiều mà
thấy Chúa chẳng được bao nhiêu, cho nên ơn thiên triệu vẫn luôn là điều
bí mật.
Dấu hiệu ơn thiên triệu.
Từ sau công đồng
Vatican II, người Âu Mỹ không dành chữ ơn gọi hoặc ơn thiên triệu riêng
cho linh mục và tu sĩ nữa. Vatican II muốn nhắm đến ân sủng làm con cái
và dân thánh Chúa qua bí tích rửa tội, nên định nghĩa rằng mỗi người
đều có ơn gọi riêng. Người thì có ơn gọi làm cha mẹ, người khác làm
linh mục, người nữa sống đời độc thân. Điểm quan trọng là mỗi người tìm
ra ơn gọi của mình. Tuy Giáo hội không dùng chữ ơn thiên triệu thường
xuyên như trước, nhưng tiến trình đào tạo chủng sinh vẫn tập trung vào
cùng chủ đích. Chủng sinh, khi bước lên đại chủng viện, bên cạnh văn
hóa và tầm hiểu biết trần thế, đặc biệt lưu tâm đến ba khía cạnh quan
trọng khác là “huấn luyện tu đức, huấn luyện trí thức và huấn luyện mục
vụ.” Nên lưu ý nơi đây, các thầy trải qua tiến trình huấn luyện chứ
không phải chỉ giáo dục. Giáo dục chú tâm nhiều đến hiểu biết và thu
đạt, còn huấn luyện tập trung không những đến hiểu biết, tức là trí
thức, mà còn nhất là đến sự hòa nhập của chính người được huấn luyện
vào với đối tượng của sự huấn luyện là Thiên Chúa. Không khác gì nơi
quân trường, người tân binh không chỉ tập chào, đi, đứng, tập bắn súng
cho chính xác, mà còn khiến họ trở thành lính. Giấc mơ, sinh hoạt và
đời sống của họ là lính.
Cả ba khía cạnh này được hun đúc trên
một chương trình huấn luyện khác: huấn luyện nhân bản. Đức giáo hoàng
Gioan Phaolo II lưu tâm sâu xa tiến trình huấn luyện nhân bản trong
thông điệp “Pastores dabo vobis.”
Không giống như chương trình
huấn luyện trí thức và ngay cả mục vụ với môn học và bài bản cụ thể,
sau đó là các bài thi kiểm soát, tiến trình nhân bản tùy thuộc nhiều
vào sự tiếp thu của từng cá nhân. Loại huấn luyện này tương tự như mối
tương giao sư phụ-đệ tử thời xưa. Cùng một bài giảng nhưng mỗi trò hiểu
và cảm nhận khác nhau. Do đó, người ta không lạ, khi các linh mục, tuy
xuất thân cùng một đại chủng viện, học chung một thầy, một chương
trình, nhưng khi ra trường thì làm việc mục vụ và liên hệ với giáo dân
khác nhau. Đương nhiên không ai phủ nhận rằng tâm tính cá nhân đóng vai
trò rất quan trọng trong các quyết định, nhưng ảnh hưởng của huấn luyện
nhân bản dìu dắt và hướng dẫn các giao tiếp này.
Đặt vấn đề
Giao
tiếp và va chạm với trần thế, đôi khi linh mục “được khen” hay bị “chê”
là “đi tu cho nên chẳng biết gì!” hoặc “sống một mình nên không quen
giao tiếp theo kiểu người đời,” “cứ tưởng là ai cũng thành thật như
mình…” Có lẽ những nhận xét trên không sai cho lắm. Nhiều vị sống đơn
sơ như thiên thần, lúc nào cũng như trên mây, và hình như không hiểu rõ
sinh hoạt trần thế, hoặc không kịp thích ứng với tiến triển của xã hội.
Gần
đây, nhiều chủng viện Âu Mỹ quy định rõ mục tiêu và phương tiện của
huấn luyện nhân bản cho cả chủng sinh và linh mục. Hội đồng Giám mục
Hoa kỳ trong “Priestly Formation Program” (PPF) quy định mục đích của
huấn luyện nhân bản là giúp ứng viên nhận ra rằng mình và tha nhân cùng
là nhịp cầu nối kết với nhau chứ không cản trở nhau. Nói cách khác,
mình không sợ tha nhân, và không coi bản thân mình hoặc tha nhân như
cơn cám dỗ.
Điểm khó khăn cho huấn luyện nhân bản là tiến trình
tùy thuộc rất nhiều vào văn hóa của từng quốc gia và từng miền. Trên
thực tế, nhiều ưu điểm của Á châu có thể không hoàn toàn thích hợp với
Âu Mỹ, và đương nhiên ngược lại. Người ta kể lại, vào đầu thập niên
1980, khi dân Việt còn chân ướt chân ráo mới đến định cư tại Hoa kỳ,
một tân chức vì lo lắng người khác hiểu lầm, và cũng lo cho các “cám
dỗ” của “nam nữ thọ thọ bất thân” theo lối Á đông, nên khi chúc bình an
trong lễ mở tay, thay vì nói bình an với anh, với chị, ngài vừa ôm hôn
vừa chào “Mỹ tí nhá.” Nghĩa là chúc bình an kiểu “hugging” là Mỹ thôi,
chứ Việt không có vậy đâu!!! Tuy nhiên, không phải Đông-Tây không có
điểm chung. Một điểm chung quan trọng cho cả Đông Tây là ảnh hưởng gia
đình. Có lẽ vai trò gia đình quan trọng nhất cho nét hình thành nhân
bản của mỗi người. Nơi gia đình cởi mở, hiếu khách, ân cần với tha
nhân, nét nhân bản lộ rõ. Do đó tại sao các vị Giáo hòang thường nói
rằng gia đình là nôi nuôi dưỡng ơn gọi và nuôi dưỡng con cái thành
người. PPF chân thành nhìn nhận rằng với các ứng viên cứng cỏi, yêu
mình quá độ, khó hòa đồng với xã hội, không tôn trọng thân xác mình, sợ
hãi tính dục, mau nổi giận, chống lại quyền bính, mê thích vật chất, dễ
nghiện ngập.. thì dù chương trình huấn luyện nhân bản có hay đến đâu
chăng nữa, kết quả không tiến triển bao nhiêu.
Những thách đố nhân bản của đời linh mục.
Có nhiều đối kháng trong cuộc đời và sứ vụ linh mục.
Độc
thân và Khiết tịnh. Trong khi trân quý bản năng tính dục như hồng ân
Chúa ban, thì linh mục phải nhìn đến đời sống độc thân như sự kết hợp
cao cả với Chúa và hy sinh cho tha nhân. Khi muốn chia sẻ cuộc sống với
xã hội và với người khác, thì lại không được phép hòa nhập vào đời sống
trần gian. Linh mục có bổn phận giảng về tình yêu, chủ sự các cuộc hôn
nhân của tình yêu vợ chồng, nhưng không được sống tình yêu đó. Ngài
phải biết và tôn trọng những khuynh hướng tình dục và tính dục để
khuyên bảo và để giúp cho tha nhân hướng về Chúa, nhưng lại không có
quyền sống những thử nghiệm này. Ngài phải biết yêu mọi người nhưng
không được phép yêu một người.
Nhập thế. Ngài cùng đồng hành
với tha nhân, cùng chia sẻ buồn đau với họ nhưng hình như khó có thể
định rõ biên giới của đồng hành như bằng hữu và đồng hành như chủ
chiên. Là người, vị linh mục cần tình bạn. Nhưng thế nào là tình bạn?
Dựa trên văn chương như bạn văn? Dựa trên bàn tiệc như bạn nhậu? Dựa
trên tình hàng xóm với người ở gần nhà thờ? Hay dựa trên vai trò lúc
giảng Thánh Kinh mà thôi? Nếu ngài chỉ sống trong giới hạn của bổn
phận, thì đương nhiên người khác cũng sẽ giới hạn bổn phận khi giao
tiếp với ngài. Còn nếu ngài thực sự cùng chia sẻ nỗi đau, thăng trầm
trong đời sống của họ, thì họ cũng sẽ cùng sống chết với ngài. Đến đây,
một thách đố khác xẩy ra, ngài có nên dấn thân, vào đời cách mãnh liệt,
hoặc xã hội có đồng ý “cho phép” như vậy không? Trước năm 1975, một vài
dòng tu tại miền Nam Việt Nam thử nghiệm chương trình vào đời cho các
thầy. Kết quả chưa rõ vì sau năm 1975, kết quả bị gián đoạn.
Việt
Nam chúng ta có lời ví von rất hay và rất thực tế “gần chùa gọi Bụt
bằng anh.” Nếu linh mục sống tách biệt khỏi xã hội thì bị chê là sống
trong tháp ngà, xa rời thực tế, không thông cảm các khổ cực và đau khổ
của người khác. Nếu ngài sống gần gũi với dân thì dù là Bụt còn bị gọi
là anh, huống chi con người. Vậy, đâu là chỗ đứng trung dung, đâu là vị
thế tương hợp?
Khó nghèo. Linh mục phải lo lắng cho tương lai
của mình. Trên thực tế đã có những vị khi ra đi, việc an táng và nhà
thương tùy thuộc vào lòng hảo tâm của người khác. Dân Việt chúng ta rất
rộng rãi giúp đỡ các trường hợp trên, nhưng những thập niên kế tiếp,
chắc gì còn dễ dàng thấy những lòng hảo tâm này? Linh mục không được
thu tích của cải, ngược lại, cần biểu lộ tấm gương sống đơn giản và
giúp đỡ người khác. Dĩ nhiên, với tâm tình phó thác, cần hoàn toàn
trông cậy vào Chúa, thế nhưng, đâu là sự khôn ngoan cần thiết phải lo
cho chính mình, nhất là khi có tuổi, về già? Phải hiểu thế nào với câu
châm ngôn “Hãy giúp mình, Chúa sẽ giúp bạn sau.” Nhìn xa hơn, Thiên
Chúa ban cho con người khả năng phát triển. Quốc gia Hoa kỳ tự hào vì
Thượng đế ban cho nhiều tài nguyên thiên nhiên. Họ biết dùng sự khôn
ngoan của con người –cũng là hồng ân Chúa ban- vào việc xử dụng tài
nguyên thiên nhiên đó và trở thành cường quốc giầu mạnh nhất thế giới.
Người da đỏ sở hữu những tài nguyên này hàng ngàn năm qua, nhưng không
biết phát triển.” Vậy mình nên theo gương người da đỏ hay da trắng? Tại
sao con người nói chung và các linh mục nói riêng không biết dùng khả
năng Chúa ban vào việc phát triển của cải vật chất? Nhưng như thế, đâu
là giá trị cần thiết của nhân đức thanh bần?
Vâng phục. Cùng
theo những suy luận trên, Chúa cho mỗi người một trí khôn ngoan và tài
lãnh đạo. Trí khôn ngoan và tài lãnh đạo cộng với khả năng phán đoán
đúng sai, quả thực là hồng ân vĩ đại nhất mà trong số mọi sinh vật, chỉ
con người và thiên thần mới có. Tuy nhiên, linh mục là người nêu tấm
gương vâng phục và phó thác. Dĩ nhiên, vâng phục và phó thác vào Thiên
Chúa thì rất hợp lý, vì Thiên Chúa là đấng dựng nên con người, nhưng
linh mục phải vâng phục và phó thác vào một thụ tạo khác, có khi chưa
hẳn đã thông minh và khôn ngoan bằng mình, đồng thời phải tin tưởng
rằng người đó được lựa chọn để hướng dẫn mình. Sự thách đố này có lẽ
khó khăn nhất. Khó khăn không kém là phải tuân phục người mình không
thích và không bầu chọn làm lãnh đạo. Trong đời sống linh mục, khả
năng, khôn ngoan, trí hiểu biết phải nhường cho nhân đức khiêm nhường,
vâng phục và phó thác.
Thành công trong Mục Vụ. Bên cạnh đó,
thành công trong việc mục vụ trở thành kẻ thù lớn. Nghe có vẻ hơi ngược
đời. Phúc âm dậy dỗ môn đệ Chúa phải khiêm nhường; tuy nhiên, trong
thiên chức, linh mục là người chịu thử thách về khiêm nhường hơn cả.
Dân Chúa, kính trọng người đại diện Đức Kitô, người giúp mình lãnh nhận
các bí tích, nhất là bí tích làm con Thiên Chúa, và bí tích lãnh nhận
mình máu thánh Chúa, gọi vị linh mục là Cha. Đây là thói quen bên Âu Mỹ
đã có từ lâu, khi áp dụng vào Á châu và Việt Nam, trở thành nguồn an ủi
và cũng là cơn cám dỗ lớn. Đang từ “chức” chú trong tiểu chủng viện,
đồng nghĩa với chú em, lên làm thầy, đồng nghĩa với thầy giáo dậy học.
Từ thầy, sau ngày chịu chức, lên làm cha, ngang hàng với bậc phụ huynh
trong gia đình. -Cũng nên nhắc nhở đặc tính văn hóa nơi đây. Người
chủng sinh không được tiến chức vì lý do nào đó, bỗng dưng bị người
chung quanh coi thường một cách oan uổng dù không làm gì sai trái-.
Người Âu Mỹ khi gọi vị linh mục là cha biểu lộ yêu thương và quý mến
hơn là đẳng cấp. Họ dùng các đại danh từ như “you và me” hoặc “vous và
moi” là lối xưng hô bình thường sau chữ “father.” Việt Nam và nhiều
nước Á châu, chịu văn hóa Khổng Mạnh với tam cương, ngũ thường, xác
định, không chỉ giá trị, mà còn vị thế của người làm cha.
Cách
gián tiếp, vị linh mục khi quen được gọi là cha, cách tích cực, phải
hành xử cho đúng với cương vị của người cha hiền hậu và đáng kính. Tiêu
cực, dễ bị cám dỗ, nghĩ rằng mình quyền thế và thông biết hơn người
khác.
Luật bù trừ. Các nhà tâm lý học nhắc nhở nhiều đến luật bù
trừ và đến luật sinh tồn. Theo họ thì theo bản năng tự nhiên, con
người, kể cả linh mục và tu sĩ dù của bất cứ tôn giáo nào đều bị chi
phối bởi luật bù trừ. Luật bù trừ là gì? Đó là phản ứng tự nhiên của
con người. Khi bị thiếu thốn hoặc bị cấm đoán ở một điểm, sẽ tìm cách
giải tỏa hoặc giải khuây ở điểm khác. Từ suy luận trên, người ta thấy
có vị tu hành nghiện rượu, mê coi thể thao quá độ, thích đi du lịch quá
thường xuyên. Đôi khi các vị dồn mơ ước của mình vào danh giá và quyền
hành, cho nên tuy từ bỏ mọi sự -ngay cả chính bản thân mình- nhưng khó
khăn khi phải lìa xa một chức tước như chánh xứ, giám đốc là những vị
thế không đáng so với sự từ bỏ chính đời sống của mình.
Luật sinh tồn
Thiên
Chúa phú thác cho mỗi người bẩm tính truyền sinh. Ai nấy đều muốn trông
thấy cuộc sống của mình nối dài nơi con cái, nơi công trình, sự nghiệp,
hoặc muốn để tiếng ngàn thu cho hậu thế. Nếu quá chú tâm đến sinh tồn
dù vật chất hay tinh thần, linh mục dễ bị ràng buộc vào một đam mê nào
đó, dù đam mê ấy trong sạch và hữu ích thí dụ như dậy học, nghiên cứu,
thực thi dự án, hệ thống, chương trình xã hội. Các vị trở thành công
chức hoặc chuyên viên, và không hành xử sứ vụ cũng như mục vụ linh mục.
Các văn bản mục vụ, thần học, thánh kinh của giáo hội trở thành thứ yếu
so với mục tiêu chuyên môn.
Huấn luyện nhân bản.
Để
đạt được sự tự giác về nhân bản, trở thành một người biết lắng nghe tha
nhân, trưởng thành tâm sinh lý, biết kính trọng, lo lắng trước hết cho
bản thân mình, có thể liên hệ với người khác, cùng phái và khác phái,
không coi thường người thiểu số, người di cư, người nghèo khổ, biết giá
trị của đời sống hôn nhân cũng như độc thân, các vị có trách nhiệm
trong chủng viện, nhìn nhận rằng chương trình huấn luyện thần học,
thánh kinh và ngay cả mục vụ, chưa hoàn toàn trọn vẹn. Vị linh mục
tương lai cần đến chương trình huấn luyện nhân bản cách cụ thể hơn nữa.
Huấn luyện nhân bản cần thiết không chỉ cho chủng sinh mà còn cho linh
mục.
Huấn luyện nhân bản sẽ giúp tu sĩ và linh mục hiểu biết và
kính trọng thân xác như quà tặng Chúa ban. Sự phát triển tâm lý, thể lý
và sinh lý của con người, nhu cầu của cả thân xác và tinh thần. Chúa
sinh ra thân xác không phải để chúng ta hành hạ, nhưng để ca tụng Chúa.
Vậy, nên hiểu thế nào về ăn chay, hãm mình, phạt xác? Trong cùng chiều
hướng đó, đâu là giá trị của đời sống độc thân và đời sống gia đình?
Nếu muốn sống độc thân trong cuộc đời linh mục, thì đâu là những phương
cách, phương tiện giúp chúng ta? Tình bạn, tình yêu, cầu nguyện, linh
hướng, khổ hạnh giúp nhân đức và lời khấn trinh khiết đến mức nào? Đâu
là giá trị của suy niệm, của cầu nguyện, của những phương tiện tu đức?
Huấn
luyện nhân bản cũng sẽ giúp linh mục tự chủ. Tự chủ không chỉ về phương
diện tinh thần như làm thế nào đương đầu với cơn nóng giận, bực bội,
đau khổ mà còn với vật chất. Về tự chủ và tự kiểm soát tinh thần, nhiều
chủng viện từ lâu đã chú tâm đến chương trình CPE (Clinical Pastoral
Education). Chương trình dành cho cả mục sư, linh mục và chủng sinh
nhằm giúp các vị đối diện với tâm tình và cảm súc của mình khi giúp đỡ
và giao tiếp với bệnh nhân trong nhà thương. Khi thấy người bệnh đau
khổ, khi thấy họ sắp chết, mình có cùng chia sẻ cảm súc hay thờ ơ? Tại
sao thờ ơ? Nếu cùng chia sẻ cảm súc với họ, chính mình có bị chán nản
và suy nhược giống họ, giống gia đình họ?
Đào sâu chiều hướng
nhân bản giúp cho vị linh mục không bỡ ngỡ và ngại ngùng khi cần đối
diện với các thách đố của nội tâm chính mình cũng như khi giao tiếp với
người khác. Vị linh mục không tự hào vì được gọi là Cha, là mục tử, là
linh mục, nhưng tự tin khi biết rằng, sau khi đã hiểu biết các thách
đố, đã so sánh và nhận ra rằng mình đã lựa chọn đúng. Biết mình đã lựa
chọn đúng thì mới dễ tìm ra phương cách thích ứng sống lựa chọn của
mình cách hạnh phúc và bình an. Nhiều giáo phận trong chương trình hậu
huấn luyện, đã chú tâm cách mạnh mẽ, tổ chức các buổi huấn luyện cho
linh mục phát triển thêm khía cạnh nhân bản.
Biết đâu là vấn đề, đâu là thách đố. Bước kế tiếp sẽ là sống thanh thản những lựa chọn này.
Theo LM. Anthony Đào Quang Chính
Vietcatholic News