Ơn
gọi
Các bài viết về
Ơn gọi
Sự Cao Cả Của Đời Sống Thánh Hiến
Công đồng Vat. II đã coi
đời thánh hiến của các tu sĩ là phương thế kết hiệp một cách đặc biệt với Giáo
hội và với Mầu nhiệm Giáo hội, do đó đời thánh hiến luôn nỗ lực đem lại lợi ích
cho Giáo hội (x. LG 44). Việc mưu cầu đó được thể hiện bằng cách “bắt chước cách
chính xác hơn và thực hiện liên tục trong Giáo hội nếp sống Con Thiên Chúa đã
nhận khi khi Ngừơi xuống thế để thi hành Thánh ý Chúa Cha và cũng là nếp sống
Ngừơi đã đề ra cho các môn đệ theo Người” (LG 44).
Như vậy đời sống Thánh hiến không chỉ là một con đường tu đức nhằm mưu ích cho
riêng chính bản thân mình, nhưng là cho tòan thể thân thể Mầu nhiệm Chúa Kitô,
tức Giáo hội. Bởi đó người tu sĩ cũng phải có trách nhiệm chia sẻ những thao
thức của Giáo hội. Giáo hội luôn ý thức được trách nhiệm của mình là qui tụ toàn
thể nhân loại hợp nhất với Thiên Chúa, nếu Giáo hội thành công trong nhiệm vụ
nầy, thì Giáo hội cũng đạt tới mục đích của mình, Giáo hội được gọi trong ý
nghĩa hoàn hảo là “ecclesia universalis” tức “Giáo hội phổ quát”. Khi Giáo hội
đồng nhất với toàn thể nhân loại đã giải hòa, Giáo hội tìm thấy trong chính mình
cái căn tính trọn hảo của mình. (X. M. Kehl, Die Kirche, Eine katholische
Ekklesiologie, Echter 1994, 82.). Trong lúc lịch sử thúc đẩy hướng về mục đích
đó, thì Giáo hội hoàn toàn dấn thân phục vụ cho ngày vinh quang phổ quát của tất
cả mọi người, tất cả thụ tạo đều hướng đến mục đích nầy (x. Rom 8, 19 tt). Với
thao thức đó, Giáo hội mời gọi tất cả con cái của mình cùng cộng tác tích cực
trong việc làm cho nhân lọai nhận ra ánh sáng của Tn Mừng để được qui tụ lại với
nhau trong trong thân thể Mầu nhiệm của Đức Kitô.
Người tu sĩ được mời gọi phục vụ cho sứ mệnh của Giáo hội, thật vậy “đời sống
thánh hiến nằm ngay giữa lòng Giáo hội như một yếu tố quyết định đối với sứ mạng
của Giáo hội, bởi vì đời sống nầy biểu thị rõ ràng bản tính sâu xsa của ơn gọi
Kitô giáo và tình trạng tòan thể Giáo hội – Hiền thê đang ra sức vươn tới chỗ
được kết hiệp với Đấng Phu Quân duy nhất” (Vita Consecrata, số 3).
Giáo hội trong khi chu tất sứ vụ của mình cũng phải quan tâm đến những khát vọng
của nhân lọai, “phải tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại…. mới có thể
giải đáp một cách thỏa đáng với từng thế hệ những thắc mắc muôn thủa của con
người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương quan
của hai cuộc sống ấy” (GS 4). Giáo hội đang đứng trước nhiều thách đố của một
thế giới đang phát triển về tiến bộ khoa học nhân văn, và một thế giới đang đang
quằn quại vì đói ăn, thiếu thốn, không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù
chữ. Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt được sự tự do như ngày nay, đang
khi đó lại thấy sống dậy những hình thức nô lệ mới mẻ về mặt xã hội cũng như tâm
lý” (GS 4)…. Giáo hội Việt Nam cũng đang đối diện nhiều thách đố như vậy, khi mà
xã hội Việt nam đang bước vào quĩ đạo tòan cầu hóa và nền kinh tế thị trường,
rồi đây cái hố phân cách giữa người giàu và người nghèo sẽ rộng ra, và khuynh
hứơng hưởng thụ sống thực dụng nơi giới trẻ sẽ lan rộng trở thành nếp sống mới,
giới trẻ ngày nay như Lm Nguyễn Thái Hợp nhận định: “sống thực tiễn và thực dụng
hơn. Đôi khi cũng khá lý tưởng và quảng đại, nhưng đồng thời lại chăm sóc quá kỹ
cho bộ lông bộ cánh của mình. Đòi hỏi yêu thương và thông ccảm, nhưng lại quá
gay gắt và khắc nghiệt với thế hệ đi trước. Hiếu thắng, hăm hở lao mình vào cuộc
chay đua của kinh tế thị trường và khoa học kỹ thuật, nhưng cũng rất dễ chao đảo
trứơc những khó khăn của cuộc sống, những thất bại trong nghề nghiệp hay một
chút lận đận về tình duyên. Không thiếu những người trẻ đã nản chí, buông xuôi
và tím cách giải quyết vấn đề bằng ma túy, tình dục, băng đảng hay bằng chính
cái chết” (Lm Nguyễn Thái Hợp,Để Họ Lớn Lên, Đức tin &Văn Hóa 2005, 85). Vâng,
một thực trạng đáng buồn đang diễn ra hằng ngày trứơc mắt chúng ta: “Hiện tượng
giới trẻ buông thả, bung phá thác lọan thì thật rõ. Có mặt mọi nơi, từ các ngóc
ngách phố phường cho đến bên trong trường học, và đang len lỏi vào tận mỗi gia
đình” (Lm Nguyễn Thái Hợp, Std, tr. 85.)
Trước những thách đố đó “Giáo hội có quyền chờ đợi sự góp phần đặc biệt từ phía
những ngừơi đựơc thánh hiến, được kêu gọi lám chứng tá cụ thể rằng họ đã thuộc
về Đức Kitô trong hết mọi hòan cảnh” (Vit Consecrata, số 25).
Để có thể đáp ứng sự mong chờ của Giáo hội, trứơc tiên người nữ tu phải tìm đến
căn cước của mình: Tôi là ai? Vì chỉ khi xác định được sự hiện hữu của mình,
chúng ta mới nhận ra căn tính của mình để khẳng định vai trò và chỗ đứng của
mình trong thế giới. Thắc mắc về căn cước của mình làm nẩy sinh những hệ tư
tưởng về hữu thể học, siêu hình học, bản thể học… như là những nỗ lực tìm câu
trả lời cho câu hỏi: “tôi là ai?” “tôi từ đâu mà có. Những câu hỏi về căn cứơc
của mình đã thấy xuất hiện trong những bản văn triết lý cổ xưa nhất của nhân
lọai như trong bộ sách Upanishad của Ấn Độ: “Chúng ta sinh ra từ đâu? Chúng ta
sống ở đâu? Chúng ta đi về đâu? Ông là người Brahman, xin ông giảng cho chúng
tôi biết do lệnh của ai mà chúng tôi sống trên cõi đời nầy… Phải do thời gian,
do thiên nhiên, do tất nhiên hay do ngẫu nhiên, hay là do các nguyên tố, hay là
do đấng mà người ta gọi là Purusha? – Tức Đấng Tối cao?” ( Will Durant, The
Story of Civilization, Our Oriental Heritage, Vol. I, Bản tiếng việt do Nguyễn
Hiến Lê dịch: Lịch sử văn minh Phương Đông, Lịch sử văn minh Ấn Độ, cuốn 1, Nhà
xuất bản Văn Hóa Thông Tin 2006, tr. 62). Hiểu về sự hiện hữu của mình là thao
thức của con người. Tôn giáo cổ của Ấn độ trong kinh Vệ đà (Veda) có tường thuật
về sự hiện hữu của con người: “Có một vị thần không biết vui là gì, chỉ riêng có
vị đó là không vui, lẻ loi, thiếu một bạn đời. Vị thần đó to lớn bằng một ngừơi
đàn ông và một người đàn bà ôm chặt lấy nhau. Vị thần đó làm cho thân thể mình
rớt làm hai phần: một phần thành người đàn ông (pati), một phần thành người đàn
bà (patnie)… Người đàn ông ân ái với ngừơi đàn bà, do đó có lòai người” ( Will
Durant, Std, tr. 62). Thánh Kinh Cựu ước đã tường thuật việc tạo dựng con ngừơi
từ một cục đất do Thiên Chúa nặn nên hình nên dạng (St 2, 6), và ngừơi đã làm
nên con ngừơi có nam có nữ để nói đến nguồn gốc của con người (St 1, 27). Việc
truy tìm cội nguồn và lý do hiện hữu của mình, con ngừơi nhận ra cái phẩm giá
cao sang của mình mà tác gỉa sách Sáng thế đã khẳng khái: “Thiên Chúa sáng tạo
con ngừơi theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con ngừơi theo hình ảnh của
Thiên Chúa” (St 1, 27). Với việc tạo dựng “theo hình ảnh của Thiên Chúa”, Công
đồng Vat. II đã đề cao con ngừơi với những phẩm giá: của trí tuệ, chân lý và sự
hiểu biết (GS 15); của lương tâm (GS 16); của sự cao cả của tự do (GS 17).
Trong cái nhìn đó, để hiểu sứ mệnh của mình, hiểu được giá trị của đời sống
thánh hiến, ngừơi tu sỉ cũng phải truy tìm căn cứơc của mình: tôi là ai? Và trả
lời được câu hỏi đó, ngừơi tu sĩ mới có thể hiểu được cái phẩm giá cao quí của
đời sống thánh hiến: “là ân huệ Thiên Chúa Cha ban cho Giáo hội Người qua trung
gian của Thánh Thần. Nhờ việc tuyên giữ các lời khuyên của Tin Mừng, các nét đặc
trưng của Đức Giêsu – Khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục – trở thành hữu hình
giữa lòng thế giới như một gương mẫu thường hằng, và các tín hữu được mời gọi
hứơng nhìn về mầu nhiệm Nứơc Thiên Chúa đã tác động trong lịch sử, nhưng còn
đang chờ đạt tới viên mãn ở trên trời” (Vita consecrata, số 1).
Đời sống tu trì xuất hiện khi nào trong lịch sử Giáo hội Công Giáo? Nhà Sử học
Bùi Đức Sinh OP đã khẳng định: “Bậc tu hành không phải mới có từ thời Trung cổ,
nhưng sự thực đã có từ khi Giáo hội được thành lập. Trong Tân Ước, đã có những
giáo dân ao ước sống trọn lành, cố gắng thực hiện bài giảng trên núi của Chúa.
Đời sống tu hành bắt nguồn từ Phúc âm, bởi lẽ mục đích của nó là bắt chước cuộc
đời Chúa Giêsu Kitô. Sách Tông Đố Công Vụ thuật lại: ‘các kẻ tin hết thảy đều
coi mọi sự như của chung: đất đai của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi
người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình… Đòan lũ những kẻ tin chỉ có một lòng,
một linh hồn. Không một người nào nói của gì là của riêng, nhưng đối với họ mọi
sự là của chung’(Cv 2, 44 – 45 và 4, 32)” (Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công
Giáo, Cuốn 1, Chân Lý xuất bản, Sàigòn 1975, tr. 223). Tuy nhiên đời sống tu
hành thực sự được Giáo hội nhìn nhận và đặc biệt đề cao đuợc hình thành dưới
hình thức đan tu vào cuối thế kỷ thứ III, đặc biệt phát triển phồn thịnh ở Ai
cập như thánh Phaolô (234-341) thánh Antôn (251 -356). Nhưng hình thức đan tu
nầy không mang tính tập thể, mỗi người ở một lều riêng và không tuân theo một
nội qui nào (Bùi Đức Sinh, Std, tr. 224). Hình thức tu mang tính công cộng được
hình thành bởi thánh Pacômiô (290 – 346), khi ngài thiết lập tại Tabennisi một
đan viện đầu tiên. Với nếp sống tập thể, các đan sĩ phải tuân theo một nội qui
được qui định rõ ràng: lao động tay chân, nghiên cứu Kinh Thánh, vâng phục quyền
bề trên. Nội qui nầy sau được thánh Basiliô (329 – 379) biên sọan lại, và thánh
nhân đã đưa ra các tiêu chuẩn để thực hiện ba lời khuyên Phúc Âm: vâng phục,
khiết tịnh và khó nghèo (Brockhaus Enzyklopädie, Art.: Marcella, Mannheim,
Mag-Mod 1991, Bd.14, 184)
Đối với nữ tu, đầu tiên xuất hiện tại Roma một nhóm chị em phụ nữ qui tụ lại
sống chung với nhau, chọn đời sống khắc khổ, khấn khiết tịnh, học hỏi Thánh Kinh
do thánh nữ Marcella (325/335? – 410) khởi xướng (Brockhaus Enzyklopädie, Art.:
Marcella, Mannheim, Mag-Mod 1991, Bd.14, 184.) Càng ngày càng có phụ nữ chọn đời
sống khổ hạnh sống chung với nhau thành nhiều nhóm, trong số họ các chị Lea,
Paula, Melania hậu và Proba đóng vai trò quan trọng (Karl Baus/Eugen Ewig,
Handbuch der Kirchengeschichte,Die Reichskirche nach Konstantin dem Grossen,
Band II/1, xuất bản bởi Hubert Jedin, Herder1985, 391). Nhưng để nói một dòng tu
nữ đúng nghĩa trứơc tiến phải nói đến thánh Augustinô, vào năm 387 thánh nhân
công nhận một nhóm qủa phụ và trinh nữ sống chung với nhau, sinh sống bằng nghề
lao động tay chân, họ tự đặt ra nội qui, sau một thời gian sống thử, họ được
tiếp nhận vào trong cộng đòan, và đời sống đức ái là qui luật tối cao của cộng
đòan, (Karl Baus/Eugen Ewig, Std, 392).
Một cái nhìn thóang qua về sự xuất hiện đời sống tu trì, chúng ta nhận ra được
nguồn gốc làm cho đời thánh hiến được hiện hữu đó chính: muốn noi gương Đức Kitô
để trở nên trọn lành, và Đức ái Kitô giáo như là nhựa sống của đời sống Thánh
hiến. Như vậy chính Chúa Kitô là động lực làm nẩy sinh đời sống thánh hiến. Do
đó đời sống tu trì mang dấu vết thần linh, hóan cải con người mang đầy tham sân
si, đang làm nô lệ cho những đam mê hư hèn, để trở thành con ngừơi mới, con
người đựơc giải thóat khỏi sự kiềm chế của dục vọng xác thịt, hòan tòan nên
giống Đức Kitô: vâng phục, khiết tịnh và thanh bần. “Qua các lời khuyên Phúc âm,
Đức Ki-tô mời gọi một số người chia sẻ kinh nghiệm của Người như là kẻ khiết
tịnh, nghèo khó và vâng phục. Việc chấp nhận các lời khuyên đó đòi hỏi và biểu
lộ nguyện ước minh nhiên được hoàn toàn nên đồng hình đồng dạng với Người. Khi
sống "vâng phục, không có của riêng và khiết tịnh" (32), những người tận hiến
tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Mẫu Mực, nơi Người mọi nhân đức đạt tới mức hoàn
hảo. Thực vậy, lối sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Người xuất hiện
như một cách sống Tin Mừng triệt để nhất trên trái đất này, một cách thức có thể
gọi là thần linh, bởi vì chính Đấng vừa là con người vừa là Thiên Chúa đã chấp
nhận lối sống đó để diễn tả mối quan hệ của Con Một đối với Chúa Cha và Chúa
Thánh Thần. Đó là lý do khiến cho truyền thống Ki-tô giáo luôn nói rằng, xét
theo mặt khách quan, đời tận hiến trổi vượt hơn tất cả”(Vita consecrata, số 18).
Như vậy căn cứơc của đời sống được hình thành bởi việc tuân giữ ba lời Khuyên
Phúc Âm: Vâng Lời, Thanh khiết và Khó nghèo. Chính việc tuyên giữ ba lời khuyên
Phúc âm, ngừơi tu sĩ đã biến đổi căn cước của mình để được “trở nên đồng hình
đồng dạng với Đức Kitô”. “Quả thế, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm,
người được thánh hiến không chỉ bằng lòng với việc đã chọn Đức Ki-tô làm ý nghĩa
đời mình, nhưng còn tìm cách diễn lại nơi chính mình, trong mức độ có thể, nếp
sống Con Thiên Chúa đã sống khi Người xuống thế. Khi ôm ấp sự trinh khiết, họ
nhận tình yêu khiết trinh của Đức Ki-tô làm của mình và tuyên xưng với thế giới
rằng Người là Con Một, đồng nhất với Chúa Cha (x. Ga 10,30; 14,11); khi bắt
chước sự nghèo khó của Người, họ tuyên xưng rằng Người Con đón nhận mọi sự từ
Chúa Cha và dâng mọi sự lại cho Chúa Cha vì yêu thương (x. Ga 17,7.10); khi gắn
bó với mầu nhiệm vâng phục hiếu thảo của Người bằng lễ hy sinh tự do của mình,
họ tuyên xưng Người là Đấng được yêu thương và Đấng yêu thương vô biên, là Đấng
chỉ vui thoả khi ở trong ý muốn của Chúa Cha (x. Ga 4,34), vì Người hoàn toàn
kết hợp với Chúa Cha và tuỳ thuộc Chúa Cha trong mọi sự.” (Vita Consecrata 16).
Theo LM. Hà Văn Minh
Vietcatholic News