Phụng
vụ - Mục vụ
Thông điệp
Thông Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2005
Đừng Để Sự Dữ Lấn Lướt Nhưng Hãy Chiến Thắng Sự Dữ Bằng Điều Thiện
1.
Trong buổi rạng đông của Năm Mới này, một lần nữa tôi gởi
đến các nhà lãnh đạo các quốc gia và những người nam nữ
thiện chí, là những người nhận thấy nhu cầu xây dựng hòa bình
trên thế giới. Chủ đề tôi đã chọn cho Ngày Hòa Bình Thế
Giới năm 2005 này là những lời trong Thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn
Rôma: “Đừng để sự dữ lấn lướt, nhưng hãy chiến thắng
sự dữ bằng điều thiện” (Rm 12:21). Sự dữ không bao giờ
bị đánh bại bởi sự dữ; một khi đã chọn vào con đường đó,
thay vì khuất phục sự dữ, ta lại bị sự dữ đánh gục.
Vị Đại Tông Đồ này đem đến một sự thật nền tảng: hòa bình
là thành quả của một cuộc chiến lâu dài và cam go mà chỉ có
thể thắng khi sự dữ bị khuất phục bởi điều thiện. Khi chúng
ta nhìn đến thảm cảnh của những cuộc xung đột huynh đệ tương
tàn trên nhiều miền của thế giới, và những đau khổ, bất công
không sao kể xiết mà chúng gây ra, lựa chọn duy nhất có tính xây
dựng thực sự, như Thánh Phaolô đưa ra, là anh em hãy gớm ghét
điều dữ, tha thiết với điều lành (x. Rm 12:9).
Hòa bình là một điều thiện hảo phải được đề cao bởi điều
thiện: đó là điều thiện hảo cho cá nhân, cho gia đình, cho
quốc gia và cho toàn nhân loại; tuy nhiên đó là điều cần phải
được duy trì và vun trồng bởi những quyết định và những hành
động được linh hứng hởi điều thiện. Chúng ta có thể đánh
giá cao chân lý sâu sắc trong một lời khác của Thánh Phaolô:”Đừng
lấy ác báo ác” (Rm 12:17). Con đường một chiều để thoát ra
khỏi vòng lẩn quẩn của ác báo ác là chấp nhận những lời này
của Thánh Phaolô “Đừng để sự dữ lấn lướt, nhưng hãy
chiến thắng sự dữ bằng điều thiện” (Rm 12:21)
Sự dữ, điều thiện và tình yêu thương
2. Từ buổi đầu, nhân loại đã biết đến thảm cảnh của sự
dữ và đã cố gắng nhổ tận gốc chúng và tìm cách giải thích
về những nguyên nhân gây nên sự dữ. Sự dữ không phải là
những động lực nào đó phi nhân cách hay tiền định để tác quái
trong thế giới. Đó là hệ quả của sự tự do của con người.
Tự do, điều phân biệt con người với những loài thọ tạo khác
trên thế giới, luôn hiện diện nơi trung tâm của thảm trạng
sự dữ. Sự dữ luôn có một danh xưng và một khuôn mặt: đó
là danh xưng và dung mạo của những người nam nữ chọn nó cách
tự do. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng ở buổi sơ khai của lịch
sử nhân loại, Ađam và Evà đã phản nghịch cùng Thiên Chúa, và
Abel đã giết Cain, em mình (x. Sáng Thế 3-4). Đây là những lựa
chọn sai lầm, được tiếp nối bởi vô vàn những điều khác
nữa trong những thế kỷ tiếp theo. Mỗi một lựa chọn này có
một chiều kích luân lý nội tại, liên quan đến những trách
nhiệm cá nhân và mối liên hệ căn bản cá vị của mỗi người
với Thiên Chúa, với tha nhân và với tất cả những thụ tạo.
Ở mức thâm sâu nhất, sự dữ là sự khước từ bi đát
những đòi hỏi của yêu thương.(1)Sự thiện luân lý,
ngược lại, được sinh ra trong yêu thương, tỏ lộ chính mình như
tình yêu và hướng về tình yêu. Tất cả điều này đặc biệt
hiển nhiên với những người Kitô hữu, là những người biết
rằng tư cách thành viên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô đặt họ vào
một mối quan hệ đặc biệt không chỉ với Thiên Chúa nhưng còn
với anh chị em của mình. Luận lý nội tại của tình yêu Kitô Giáo,
theo Tin Mừng là nguồn sinh lực cho những hành vi luân lý thiện
hảo, dẫn đến việc yêu thương kể cả kẻ thù: “kẻ thù ngươi
có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống” (Rm 12:20).
“Văn phạm” của luật luân lý phổ quát
3. Khi nhìn đến tình hình hiện nay của thế giới, chúng ta phải
ghi nhận sự lan tràn đáng quan ngại của các biểu thị đa
dạng của sự dữ trên bình diện xã hội và chính trị : từ
sự rối loạn trật tự xã hội đến các cuộc nổi dậy và
chiến tranh, từ sự bất công đến các hành vi bạo động và chém
giết. Để vạch ra được con đường giữa những tuyên bố mâu
thuẫn giữa thiện và ác, gia đình nhân loại cần cấp bách bảo
vệ và tôn trọng gia sản chung của các giá trị luân lý đã được
chính Thiên Chúa ban cho. Vì lý do này, Thánh Phaolô đã khích lệ
tất cả những ai quyết tâm chiến thắng sự dữ bằng sự thiện
hãy trở nên cao thượng và khách quan trong việc nuôi dưỡng lòng
quảng đại và hòa bình. (x Rm 12:17-21).
Mười năm trước đây, khi đọc diễn văn tại Đại Hội Đồng
Liên Hiệp Quốc về nhu cầu dấn thân chung phục vụ hòa bình, tôi
đã tham chiếu đến ”văn phạm” của luật luân lý phổ quát,(2)
mà Giáo Hội kêu gọi trong nhiều tuyên bố đa dạng về lãnh vực
này. Qua việc đề cao những giá trị và nguyên tắc chung, luật này
đoàn kết nhân loại, bất chấp những nền văn hóa dị biệt, và
tự nó là bất di bất dịch: “nó tồn tại trong sự bất định
của ý tưởng và phong tục và tán trợ sự tiến bộ của chúng...
Ngay cả khi nó bị từ khước nơi chính nguyên tắc căn bản của
mình, nó vẫn không thể bị hủy diệt hay tách ly khỏi con tim con
người. Nó luôn lại trỗi dậy nữa trong đời sống cá nhân và xã
hội”. (3)
4. Văn phạm chung của luật luân lý này đòi hỏi sự dấn
thân và trách nhiệm nhiều hơn bao giờ hết cho việc bảo đảm
rằng đời sống các cá nhân và các dân tộc phải được tôn
trọng và thăng tiến. Trong ánh sáng này, những tội ác có tính
chất xã hội và chính trị đang xâu xé thế giới, đặc biệt
những tội ác đang được kích động bởi những bùng nổ của
bạo lực, phải bị lên án cách mạnh mẽ. Tôi nghĩ ngay đến
lục địa thân yêu Phi Châu, nơi những cuộc xung đột đến nay đã
gây ra đau thương cho hàng triệu con người vẫn còn đang tiếp
diễn. Hay là tình trạng nguy hiểm tại Palestine, miền đất
của Chúa Giêsu, kết cấu của sự hiểu biết lẫn nhau, vẫn còn
bị xâu xé bởi một cuộc tranh chấp mà hàng ngày lại được
chồng chất thêm bởi những hành vi bạo lực và trả đũa, chưa
biết đến bao giờ mới được chữa lành trong công lý và sự
thật. Và còn phải nói sao đây về hiện tượng khủng bố
bạo lực đáng quan ngại, là điều xem chừng như đang lèo lái
toàn thể thế giới về một tương lai đầy kinh hoàng và thống
khổ? Cuối cùng, làm sao chúng ta lại có thể không nghĩ đến
với lòng ray rứt sâu xa về thảm kịch chưa đến hồi kết
cục tại Iraq, là điều đang gây ra những tình trạng bi đát
của sự bất định và bất an cho tất cả?
Để đạt đến thiện ích của hòa bình, cần phải có một sự
nhìn nhận rõ ràng và đầy ý thức rằng bạo lực là tội ác không
thể chấp nhận được và nó không bao giờ giải quyết được
những vấn nạn. "Bạo lực là điều dối trá, vì nó đi ngược
lại sự thật của đức tin chúng ta, sự thật của nhân loại chúng
ta. Bạo lực hủy diệt điều mà nó tuyên bố bảo vệ: phẩm giá,
sinh mạng, và tự do của con người"(4). Điều cần
thiết là một nỗ lực to lớn để hình thành lương tâm và giáo
dục thế hệ trẻ về những điều thiện qua việc đề cao
chủ nghĩa nhân bản hội nhập và huynh đệ mà Giáo Hội công
bố và đề cao. Đây là nền tảng cho một trật tự xã hội, kinh
tế và chính trị tôn trọng phẩm giá con người, tự do và các
quyền căn bản của mỗi cá nhân.
Thiện ích của hòa bình và thiện ích chung
5. Nuôi dưỡng hòa bình qua việc chiến thắng sự dữ bằng điều
thiện đòi hỏi một sự suy tư thận trọng về thiện ích chung(5)
và về những hệ quả xã hội và chính trị của nó. Khi thiện ích
chung được đề cao ở mọi lãnh vực, hòa bình được tán dương.
Có thể nào một cá nhân tự thấy mình thỏa mãn hoàn toàn mà không
lý gì đến bản chất xã hội của mình, nghĩa là, tính cách
“với” người khác và “cho” người khác? Thiện ích chung chi
phối chặt chẽ anh ta. Nó chi phối mạnh mẽ những biểu hiện có
tính chất xã hội: gia đình, các nhóm, các hiệp hội, những thành
phố, những khu vực, các quốc gia, và cộng đồng các dân nước.
Mỗi người, cách nào đó, được mời gọi hoạt động cho
thiện ích chung, thường xuyên để ý đến thiện ích của người
khác như là thiện ích của chính mình. Trách nhiệm này cách riêng
thuộc về những nhà cầm quyền chính trị ở mọi cấp, vì họ
được mời gọi để tạo ra tổng hợp những điều kiện xã
hội cho phép và nuôi dưỡng nơi mọi người sự phát triển toàn
diện của họ. (6)
Thiện ích chung, do đó, đòi buộc sự tôn trọng đối với sự thăng
tiến toàn diện của cá nhân và những quyền căn bản của họ, cũng
như đòi buộc phải tôn trọng sự thăng tiến quyền lợi các
quốc gia trên hoàn vũ. Về phương diện này, Công Đồng Chung
Vatican II đã nhận xét rằng “sự phụ thuộc tương tác ngày
một gần gũi đang dần dà bao trùm toàn thế giới sẽ dẫn đến
một thiện ích chung phổ quát hơn.. và điều này lôi kéo theo
những quyền lợi và bổn phận trên quy mô toàn nhân loại. Mỗi
một nhóm xã hội cần phải tính đến các nhu cầu và những khát
vọng hợp pháp của các nhóm khác cũng như thiện ích chung của toàn
nhân loại”.(7). Thiện ích của toàn nhân loại như một
tổng thể, bao gồm cả những thế hệ tương lai, đòi hỏi sự
hợp tác quốc tế thật sự, theo đó mỗi nước cần phải đưa
ra những cống hiến của mình.(8)
Một số quan điểm giản lược nhất định có khuynh hướng trình
bày thiện ích chung như một tình trạng kinh tế-xã hội thịnh vượng
thuần tuý, thiếu mất mục đích siêu việt, và như thế đánh
mất đi ý nghĩa sâu sa nhất của nó. Tuy thế, thiện ích chung có
một chiều kích siêu việt, vì Thiên Chúa là cùng đích của
mọi tạo vật do Ngài dựng nên. (9)Người Kitô hữu
biết rằng Đức Kitô đã dõi chiếu ánh sáng tỏ tường trên cách
thức làm sao thiện ích chung của nhân loại có thể đạt được.
Những hành trình lịch sử hướng về Đức Kitô và trong Ngài tìm
thấy được cùng đích của nó: bởi vì nơi Chúa Kitô, qua Chúa
Kitô và nhờ Chúa Kitô mọi thực tại nhân loại có thể được
dẫn đến sự viên mãn hoàn toàn nơi Thiên Chúa.
Thiện ích của hòa bình và việc dùng các
tài nguyên của thế giới
6. Vì thiện ích của hòa bình có liên hệ chặt chẽ với sự phát
triển của tất cả các dân tộc, những yêu cầu luân lý cho
việc sử dụng các tài nguyên của trái đất luôn phải được
tính đến. Công Đồng Vatican II đã nhắc nhở thật chính đáng
rằng “Thiên Chúa muốn thế giới và tất cả những tài nguyên
của nó phải được dùng cho mọi người và mọi dân tộc; sao cho
các tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ đồng đều cho mọi người,
theo sự hướng dẫn của công lý đi kèm với bác ái”.(10)
Là thành viên của gia đình nhân loại, mỗi người trở nên công
dân của thế giới, với những bổn phận và quyền lợi đi kèm,
vì tất cả nhân loại được liên kết bởi một nguồn gốc
chung và có cùng một phẩm giá cao trọng. Chỉ mới được
thụ thai, một đứa trẻ đã có những quyền của nó, nó đáng
được chăm sóc và chú ý đến; và một số người phải có bổn
phận cung cấp những điều này cho nó. Việc lên án chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc, việc bảo vệ những người thiểu số, cung
cấp những trợ giúp cho những người di cư và tỵ nạn, và sự
động viên tình liên đới thế giới hướng về những người đang
cần trợ giúp không gì khác hơn là những áp dụng nhất quán
của nguyên tắc công dân thế giới này.
7. Ngày nay, thiện ích của hòa bình cần phải xem là có liên hệ
gần gũi với những thiện ích mới nảy sinh từ tiến bộ khoa
học và kỹ thuật. Cả những điều này, theo nguyên tắc về mục
đích phổ quát của tài nguyên thế giới, cũng cần được đặt
để trong sự phục vụ những nhu cầu căn bản của con người.
Những sáng kiến thích hợp trên phạm vi thế giới có thể đem đến
sự thực hiện đầy đủ và thực tiễn nguyên tắc về mục đích
phổ quát của tài nguyên thế giới bằng cách bảo đảm cho tất
cả - cá nhân cũng như các quốc gia - những điều kiện căn bản
về chia sẻ trong tiến trình phát triển. Điều này trở nên khả
thi một khi những rào cản và chế độ độc quyền, đang gạt
nhiều dân tộc sang bên lề, được loại bỏ.(11)
Thiện ích của hòa bình sẽ được bảo đảm tốt hơn nếu cộng
đồng quốc tế gánh lấy trách nhiệm lớn hơn đối với điều
thường được gọi là công ích. Đó là những thiện ích mà
mọi công dân tự động được hưởng, không cần phải ý thức
lựa chọn hay đóng góp cách này cách khác. Chẳng hạn, như ở bình
diện quốc gia, với những thiện ích như hệ thống tư pháp, hệ
thống quốc phòng và mạng lưới xa lộ hay đường hỏa xa. Trong
thế giới chúng ta, hiện tượng toàn cầu hóa gia tăng có nghĩa là
ngày càng nhiều những công ích sẽ mang tính cách toàn cầu, và
một hệ quả là những quan tâm chung ngày càng gia tăng. Chúng
ta phải nghĩ ngay đến cuộc chiến chống nghèo đói, sự thăng
tiến hòa bình và an ninh, lo lắng cho sự thay đổi về khí hậu và
kiểm soát dịch bệnh. Cộng đồng quốc tế cần đáp trả đối
với những quan tâm chung này với một mạng lưới các thỏa hiệp
tài phán rộng lớn hơn nhằm điều hòa việc sử dụng công ích
theo những nguyên tắc phổ quát của công bình và liên đới.
8. Nguyên tắc về mục đích phổ quát của tài nguyên thế giới có
thể làm khả thi một bước tiến hiệu quả nữa trước thách
đố của nạn nghèo đói, đặc biệt khi chúng ta nghĩ đến tình
cảnh nghèo đói tột cùng mà hàng triệu người đang vẫn phải
sống trong đó. Cộng đồng quốc tế, ở buổi đầu ngàn năm
mới này, đã đặt ra ưu tiên giảm số người nghèo đói xuống còn
phân nửa trước năm 2015. Giáo Hội ủng hộ và khích lệ cam kết
này và mời gọi tất cả những ai tin nơi Đức Kitô hãy chứng
tỏ, cách thực tế và trong mọi lãnh vực, một tình thương ưu tiên
cho người nghèo. (12)
Thảm trạng nghèo đói vẫn liên hệ mật thiết với vấn nạn nợ
nước ngoài của các nước nghèo. Bất kể những tiến bộ
trong lãnh vực này, vấn nạn này vẫn chưa được giải quyết cách
thỏa đáng. Mười lăm năm trước đây, tôi đã kêu gọi công
luận chú ý đến sự kiện là “nợ nước ngoài có liên hệ
mật thiết với hàng loạt những vấn nạn khác như đầu tư nước
ngoài, hoạt động công chính của các tổ chức quốc tế lớn, giá
nguyên vật liệu và những thứ khác”(13). Những bước
tiến gần đây theo chiều hướng giảm nợ, nhắm chủ yếu đến
nhu cầu người nghèo, đã cải thiện chắc chắn phẩm chất của sự
tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, vì nhiều yếu tố khác, sự tăng
trưởng này vẫn ở mức độ chưa đủ, đặc biệt khi xét đến
những mục tiêu đề ra ở đầu ngàn năm mới. Các nước nghèo
vẫn tiếp tục bị kẹt trong vòng lẩn quẩn: thu nhập
thấp, mức tích lũy tăng trưởng chậm chạp, và đến lượt đầu
tư thấp cũng như việc sử dụng của cải tích lũy thiếu hiệu
quả không đem lại thuận lợi cho sự tăng trưởng.
9. Như Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã tuyên bố và chính tôi
đã tái khẳng định, phương cách duy nhất có hiệu quả để các
Nước đương đầu với thảm trạng nghèo đói là cung ứng cho
họ những tài nguyên cần thiết qua những viện trợ tài chính
nước ngoài - công cũng như tư - được ban cấp với những điều
kiện hợp lý, trong khuôn khổ của các liên hệ thương mãi quốc
tế được chi phối bởi công bình.(14) Điều cấp thiết
hiện nay là một sự động viên về luân lý và kinh tế,
một đằng là sự tôn trọng những hiệp định đã được thực
hiện theo chiều hướng có lợi cho các nước nghèo, và đằng khác
là đồng thời chuẩn bị tái xét những ký kết đã được
chứng tỏ là chồng chất gánh nặng quá sức lên các nước nghèo.
Về phương diện này, một động lực nên được dành cho Sự
Trợ Giúp Chung cho Phát Triển, và những hình thái tín dụng
mới dành cho phát triển cần phải được thăm dò, bất kể khó
khăn đến đâu.(15) Một số chính phủ đã xem xét kỹ lưỡng
các cơ chế đầy hứa hẹn cho lãnh vực này; những sáng kiến đáng
kể này cần được thực hiện trong tinh thần chia sẻ thực sự,
trong niềm tôn trọng nguyên tắc của sự trợ giúp. Việc
quản lý các nguồn tài chính dành cho sự phát triển các nước
nghèo cần bao gồm việc tuân thủ chặt chẽ các thực hành quản
lý đúng đắn, cả về hai phía người đưa ra và người tiếp
nhận. Giáo Hội khích lệ và đóng góp sức mình cho những nỗ
lực này. Tưởng cũng nên nêu ở đây là sự đóng góp đáng kể
của nhiều tổ chức Công Giáo dành cho trợ giúp và phát triển.
10. Cuối Đại Năm Thánh 2000, trong tông thư “Khởi Đầu Ngàn Năm
Mới”, tôi đã đề cập đến nhu cầu khẩn thiết phải có sự
sáng tạo mới trong tình bác ái(16) để truyền bá Tin
Mừng của hy vọng cho thế giới. Nhu cầu này được thấy tỏ tường
khi chúng ta nhìn đến cơ man những khó khăn trên đường phát
triển của Phi Châu: vô số những cuộc xung đột vũ trang, các
dịch bệnh gây ra bởi nghèo đói tột độ, và sự bất ổn chính
trị đang dẫn đến tình trạng bất an lan rộng. Đó là những
thảm trạng đòi hỏi một hướng đi cấp tiến mới cho Phi Châu:
trong đó có nhu cầu phải hình thành những hình thái liên đới
mới, ở các cấp độ song phương và đa phương, thông qua một
sự cam kết với quyết tâm hơn nữa của tất cả mọi phía, với
niềm xác tín hoàn toàn rằng sự thịnh vượng của các dân tộc
Phi Châu là một điều kiện thiết yếu cho sự đạt đến thiện
ích chung toàn cầu.
Cầu mong sao cho các dân tộc tại Phi Châu trở thành những người
giữ vai trò chủ đạo của chính tương lai họ cũng như sự phát
triển văn hóa, dân sự, xã hội và kinh tế của mình. Cầu mong
sao cho Phi Châu thôi không chỉ là người nhận trợ giúp, và trở
thành một nhân tố trách nhiệm hơn của sự chia sẻ đầy thuyết
phục và sinh hoa kết quả. Để đạt đến mục đích này, đòi
hỏi phải có một nền văn hóa chính trị mới, đặc biệt trong lãnh
vực hợp tác quốc tế. Lại một lần nữa, tôi muốn khẳng định
rằng thất bại trong việc thực thi các lời hứa được lặp đi
lặp lại nhiều lần trong chương trình Trợ Giúp Chung cho Phát
Triển, vấn nạn nợ nước ngoài nặng nề của các nước Phi
Châu đến nay vẫn chưa được giải quyết, và việc từ chối không
ban cho các nước này những quy chế đặc biệt trong lãnh vực thương
mại quốc tế tiêu biểu cho những trở ngại lớn lao cho hòa bình
là điều cấp thiết cần phải được xem xét và giải quyết. Ngày
nay, hơn bao giờ hết, điều có tính chất quyết định mang lại hòa
bình cho thế giới là việc nhìn nhận các phụ thuộc tương tác
giữa các nước giàu và các nước nghèo, đến mức “sự phát
triển hoặc là được chia sẻ ở mọi miền trên thế giới,
hoặc là sẽ dẫn đến một tiến trình suy thoái ngay cả tại các
miền được ghi dấu bởi sự tiến bộ không ngừng”.(17)
Tình trạng phổ quát
của sự dữ và niềm hy vọng Kitô Giáo
11. Đối diện với những thảm trạng hiện nay trên thế giới, người
Kitô hữu tuyên xưng với thái độ tin cậy khiêm nhường rằng
chỉ mình Thiên Chúa mới làm cho các cá nhân và các dân tộc
chiến thắng sự dữ và đạt đến điều thiện. Qua sự chết và
sự phục sinh của Ngài, Đức Kitô đã cứu độ chúng ta và
chuộc tội chúng ta “bằng một giá” (1Cr 6:20;7:23), đem đến ơn
cứu độ cho mọi người. Với sự trợ giúp của Ngài, mọi người
có thể chiến thắng sự dữ bằng điền thiện.
Dựa trên xác tín rằng sự dữ không thể chiến thắng, người
Kitô hữu nuôi dưỡng một niềm hy vọng không lung lạc,
một niềm hy vọng dưỡng nuôi những nỗ lực của họ để xiển
dương công lý và hòa bình. Bất chấp những tội lỗi riêng của
cá nhân và tội chung của xã hội ghi dấu trên mọi hoạt động
của con người, hy vọng Kitô Giáo thường xuyên đem đến một động
lực mới cho dấn thân vì công lý và hòa bình, cũng như cho sự
vững tin về khả năng có thể xây dựng một thế giới tốt đẹp
hơn.
Mặc dầu “mầu nhiệm của sự ác” (2 Th 2:27) hiện diện và tác
quái trong thế giới, chúng ta không được quên rằng nhân loại đã
được cứu chuộc có thể chống lại nó. Mỗi tín hữu, đã được
tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được cứu chuộc bởi
Đức Kitô, “Đấng cách nào đó đã liên kết chính mình với
mỗi người”(18), có thể hợp tác vào chiến thắng
của sự thiện. Tác động của “Thánh Thần Thiên Chúa ngập tràn
trái đất” (x Kn 1:7). Các Kitô hữu, đặc biệt anh chị em giáo dân,
do đó “không thể chôn kín niềm hy vọng của họ trong thẳm sâu
tâm hồn, nhưng phải diễn tả ra qua các cấu trúc cuộc sống
trần gian của họ trong sự hoán cải liên tục và trong cuộc
chiến ‘chống lại các quyền lực tối tăm của thế giới,
chống lại các thế lực tinh thần của sự dữ”. (Eph 6:12)(19)
12. Không một người nam nữ thiện chí nào có thể từ bỏ cuộc
đấu tranh chiến thắng sự dữ bằng điều thiện. Cuộc chiến này
chỉ có thể có hiệu quả với vũ khí yêu thương. Khi điều
thiện chiến thắng sự dữ, tình yêu thắng thế và nơi đâu tình
yêu thắng thế, nơi đó có hòa bình. Đây là giáo huấn của
Tin Mừng, được lập lại bởi Công Đồng Vatican II: ”Luật căn
bản cho sự hoàn thiện của con người, và do đó, cho sự chuyển
hóa thế giới, là điều răn mới của yêu thương”.(20)
Điều này cũng đúng trong bầu khí xã hội và chính trị. Về phương
diện này, Đức Giáo Hoàng Lêô thứ XIII đã viết rằng những ai
giữ trọng trách gìn giữ hòa bình trong các mối quan hệ giữa các
dân nước cần dưỡng nuôi trong chính họ và khích lệ nơi những
người khác “lòng bác ái, là hiền thê và là hoàng hậu của
tất cả mọi nhân đức”. (21) Người Kitô hữu phải là
những chứng nhân đầy thuyết phục của sự thật này. Họ phải
chứng tỏ qua cuộc sống của họ rằng tình yêu là động lực
duy nhất đem đến sự viên mãn cho cá nhân và xã hội, là động
lực duy nhất hướng dẫn dòng lịch sử theo con đường thiện
hảo và hòa bình.
Trong suốt năm dành kính Thánh Thể, cầu xin cho mọi con cái nam
nữ của Giáo Hội tìm thấy nơi bí tích cao cả của tình yêu
này nguồn mạch của mọi sự hiệp thông: hiệp thông với Đức
Giêsu Cứu Thế và, trong Ngài, hiệp thông với mỗi con người. Qua
cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, hiện diện cách bí tích
trong mỗi buổi cử hành Thánh Thể, chúng ta được cứu khỏi sự
dữ và có thể thực thi điều thiện. Qua cuộc sống mới mà Đức
Kitô ban cho, chúng ta có thể nhận ra người khác là anh chị em
của mình, bất chấp mọi khác biệt về ngôn ngữ, quốc tịch, và
văn hóa. Tóm lại, qua việc chia sẻ trong cùng một bánh và cùng
một chén, chúng ta đi đến nhận thức rằng chúng ta là “gia đình
của Thiên Chúa” và rằng cùng nhau chúng ta có thể đưa ra cống
hiến có hiệu quả để xây dựng một thế giới trên cơ sở các
giá trị công lý, tự do và hòa bình.
Từ Vatican, 8 Tháng Mười Hai năm 2004.
+ Gioan Phaolô II
Chú thích
(1) Về phương diện này, thánh Augustinô nhận xét rằng
“hai tình yêu đã hình thành hai thành phố: yêu mình, chối bỏ
Thiên Chúa, làm lớn mạnh thành phố tại thế; trong khi yêu Chúa,
chối bỏ chính mình, làm lớn mạnh thành phố trên trời” (De
Civitate Dei, XIV:28).
(2) Xem Thông điệp kỷ niệm 50 năm Liên Hiệp Quốc (5/10/1995), 3:
Insegnamenti XVIII/2 (1995), 732.
(3) Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, No. 1958.
(4) Gioan Phaolô II, Homily at Drogheda, Ireland (29/9/ 1979), 9: AAS 71
(1979), 1081.
(5) Công ích thường được hiểu rông rãi như là “tổng hợp các
điều kiện sống của xã hội cho phép các tập thể và cá nhân
đạt đến sự viên mãn của họ hoàn toàn hơn và nhanh chóng hơn”.
Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy
Vọng, 26.
(6) Xem Gioan XXIII, Tông Thư Mater et Magistra: AAS 53 (1961), 417.
(7) Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng, 26.
(8) Xem Gioan XXIII, Tông Thư Mater et Magistra: AAS 53 (1961), 421.
(9) Xem Gioan Phaolô II, Tông Thư Centesimus Annus, 41: AAS 83 (1991), 844.
(10) Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng, 69.
(11) Xem Gioan Phaolô II, Tông Thư Centesimus Annus, 35: AAS 83 (1991), 837.
(12) Xem Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 42: AAS 80
(1988), 572.
(13) Diễn văn trước các tham dự viên của Tuần Lễ Nghiên Cứu
tại Gia;o Hoàng Học Viện về Khoa Học (27/10/1989), 6: Insegnamenti
XII/2 (1989), 1050.
(14) Xem Paul VI, Tông Thư Populorum Progressio, 56-61: AAS 59 (1967),
285-287; Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 33-34: AAS 80
(1988), 557-560.
(15) Xem Gioan Phaolô II, Message to the President of the Pontifical Council
for Justice and Peace: L'Osservatore Romano, 10/7/2004, p. 5.
(16) Xem No. 50: AAS 93 (2001), 303.
(17) Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 17: AAS 80 (1988)
532.
(18) Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy
Vọng, 22.
(19) Công Đồng Chung Vatican II, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 35.
(20) Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng, 38.
(21) Tông Thư Rerum Novarum: Acta Leonis XIII 11 (1892), 143; Xem Benedict XV,
Tông Thư Pacem Dei: AAS 12 (1920), 215.
Theo Bản dịch của J.B. Đặng Minh An
Vietcatholic News