Phụng
vụ - Mục vụ
Thông điệp
Thông Điệp ECCLESIA DE EUCHARISTIA (Phần 2)
(...tiếp theo)
CHƯƠNG
IV
THÁNH THỂ VÀ SỰ HIỆP THÔNG CỦA HỘI THÁNH
34. Khóa họp Bất Thường của Thượng Hội Đồng Giám
Mục năm 1985 đã thấy trong khái niệm “Giáo hội học về hiệp
thông” tư tưởng trung tâm và nền tảng của những văn kiện
của Công Đồng Vatican II 67. Trong cuộc lữ hành trên
trần thế, Hội Thánh được mời gọi gìn giữ và cổ võ sự
hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và sự hiệp thông giữa các tín
hữu. Vì mục tiêu ấy, Hội Thánh có được Lời Chúa và các bí
tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, nhờ đó, Hội Thánh “luôn
sống động và tăng triển” 68 và nơi đó, Hội Thánh
diễn đạt chính bản chất của mình. Không phải ngẫu nhiên mà
từ hiệp thông đã trở nên một trong số những tên gọi
của bí tích cao vời này.
Vì vậy Thánh Thể xuất hiện như là đỉnh cao của tất cả các
bí tích vì nó làm cho nên hoàn thiện mối hiệp thông của chúng
ta với Thiên Chúa Cha bằng cách đồng hóa với Người Con yêu
dấu duy nhất của Người nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Với một đức tin sâu sắc, một văn sĩ nổi tiếng của truyền
thống Byzantin đã thốt lên sự thật này: trong Thánh Thể, “không
giống như các bí tích khác, mầu nhiệm [hiệp thông] quá hoàn
hảo đến nỗi bí tích này đưa chúng ta đến những đỉnh cao
của mọi điều thiện hảo: đó là mục tiêu tối hậu của mọi
khát vọng nhân loại, vì ở nơi đó chúng ta đến được với Thiên
Chúa và Thiên Chúa kết hiệp với chúng ta trong sự kết hiệp hoàn
hảo nhất”. 69 Chính vì lý do này quả là tốt đẹp khi
nuôi dưỡng trong tim ta một lòng khao khát liên lỉ lãnh nhận bí
tích Thánh Thể. Đây chính là nguồn gốc của thực hành “rước
lễ thiêng liêng”, mà may mắn thay đã được phổ biến qua
nhiều thế kỷ trong Hội Thánh và được khuyến khích bởi các thánh
nhân là những bậc thầy về đời sống thiêng liêng. Thánh Têrêxa
Hài Đồng Giêsu đã viết: “Khi bạn không được rước Mình Thánh
Chúa và không tham dự Thánh Lễ, bạn có thể rước lễ thiêng liêng,
đây là một thực hành đem lại nhiều ơn ích; qua đó tình yêu
của Thiên Chúa sẽ ấn dấu mạnh mẽ trên bạn”. 70
35. Tuy nhiên, việc cử hành Thánh Thể không phải là khởi điểm
của sự hiệp thông; bí tích này giả định đã có sự hiệp thông,
một sự hiệp thông mà việc cử hành tìm cách củng cố và đưa
đến chỗ hoàn hảo. Bí tích là một biểu hiện của mối giây
hiệp thông đó, cả trong chiều kích vô hình, tức là, trong
Đức Kitô và nhờ hoạt động của Thánh Thần liên kết chúng ta
với Chúa Cha và với nhau; lẫn trong chiều kích hữu hình,
tức dẫn đến sự gắn bó với giáo huấn của các Tông Đồ, các
phép bí tích và phẩm trật của Hội Thánh. Mối quan hệ sâu xa
giữa các yếu tố vô hình và hữu hình của sự hiệp thông giáo
hội là yếu tố cấu thành của Hội Thánh như bí tích của ơn
cứu độ. 71 Chỉ trong bối cảnh này mới có việc cử hành
thành sự bí tích Thánh Thể và sự tham dự đích thực vào bí tích
này. Vì thế, một đòi buộc nội tại của Thánh Thể là bí tích
này phải được cử hành trong sự hiệp thông, và đặc biệt
phải đáp ứng toàn bộ các điều kiện đã được đề ra.
36. Sự hiệp thông vô hình, tuy tự bản chất là luôn tăng triển,
giả định có đời sống ân sủng - nhờ đó chúng ta trở nên
“những người thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4), lẫn
sự thực hành các nhân đức tin, cậy, mến. Chỉ trong cách thế này
chúng ta mới có được sự hiệp thông thực sự với Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần. Đức tin thôi không đủ, chúng ta phải kiên
trì trong ơn thánh hóa và trong đức ái, ở lại trong Hội Thánh
bằng “thân xác” cũng như bằng “tâm hồn”; 72 điều
đòi buộc là, theo như lời của Thánh Phaolô, “đức tin hành động
nhờ đức ái” (Gl 5,6).
Giữ cho nguyên vẹn những mối liên kết vô hình này là một bổn
phận luân lý ràng buộc các Kitô hữu muốn tham dự trọn vẹn vào
bí tích Thánh Thể qua việc nhận lãnh Mình và Máu Chúa Kitô. Tông
Đồ Phaolô nhắc đến bổn phận này khi ngài cảnh cáo: “Ai nấy
phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này” (1 Cr
11,28). Thánh Gioan thành Chrysostom, với tài hùng biện của mình, đã
thúc giục các tín hữu: “Tôi cũng lên tiếng, kêu van, nài xin,
khẩn khoản rằng đừng ai đến gần bàn thánh này với một lương
tâm ô uế và đồi bại. Quả vậy, một hành động như thế không
thể gọi là 'hiệp thông', dù chúng ta rước Mình thánh Chúa ngàn
lần, nhưng phải gọi là 'án phạt', ‘nỗi dày vò’ và 'sự gia
tăng hình phạt'”. 73
Trong cùng một viễn tượng ấy, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo
chỉ rõ rằng “bất cứ ai biết mình mắc một tội trọng thì
phải nhận lãnh bí tích Hòa Giải trước khi rước lễ”. 74
Do đó, tôi muốn tái khẳng định rằng vẫn còn hiệu lực trong
Hội Thánh, hiện nay và trong tương lai, quy luật mà Công Đồng
Trentô đã diễn đạt cụ thể lời cảnh cáo cứng rắn của Tông
Đồ Phaolô, khi khẳng định rằng, để lãnh nhận Thánh Thể cách
xứng hợp, “nếu ai biết mình phạm tội trọng, cần xưng thú
tội của mình trước”.75
37. Hai bí tích Thánh Thể và Hòa Giải liên kết chặt chẽ với
nhau. Vì Thánh Thể làm cho Hy tế cứu chuộc trên Thánh Giá nên
hiện diện, bằng cách làm cho nó tồn tại mãi cách bí tích, điều
đó có nghĩa là từ bí tích này phát sinh một nhu cầu hoán cải
liên tục, một nhu cầu đáp trả cá vị đối với lời mời gọi
của Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Côrintô “Nhân danh Đức Kitô,
chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2 Cr 5,20).
Nếu người Kitô hữu ý thức đến một tội trọng đang đè
nặng lương tâm thì con đường thống hối qua bí tích Hòa Giải
trở nên cần thiết cho sự dự phần trọn vẹn vào Hy tế Thánh
Thể.
Phán đoán về tình trạng ân sủng của một người cố nhiên
chỉ tùy thuộc vào người đó, bởi vì đó là vấn đề tự xét
mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp mà lối sống bên ngoài đi
ngược lại cách nghiêm trọng, rõ ràng và kéo dài với chuẩn
mực luân lý, Hội Thánh, trong ưu tư mục vụ liên quan đến trật
tự của cộng đoàn và vì sự kính trọng đối với bí tích, không
thể không can thiệp trực tiếp. Giáo Luật ám chỉ đến tình
trạng hiển nhiên thiếu tư cách luân lý thích hợp khi khẳng định
rằng những người “ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường”
thì không được rước Mình Thánh Chúa. 76
38. Sự hiệp thông giáo hội, như tôi đã nói, cũng có tính chất hữu
hình, và được diễn tả qua các “mối giây liên kết” được
Công Đồng liệt kê khi dạy rằng: “Được kể là gia nhập hoàn
toàn vào cộng đoàn Giáo hội, những ai nhận lãnh Thánh Thần Chúa
Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu
rỗi được thiết lập trong Giáo hội; và nhờ các mối giây liên
kết do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc quản trị và
sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Kitô trong tổ chức mà Người
điều khiển nhờ Giáo hoàng và các Giám mục”. 77
Thánh Thể, như là một biểu lộ cao cả nhất và mang tính bí tích
của sự hiệp thông trong Hội Thánh, đòi buộc phải được cử hành
trong một bối cảnh tôn trọng những mối giây hiệp thông bên
ngoài. Cách riêng, vì là “đỉnh cao của đời sống thiêng liêng
và cùng đích của mọi bí tích”, 78 Thánh Thể đòi
buộc rằng những mối giây hiệp thông trong các bí tích, đặc
biệt trong bí tích Thanh Tẩy và bí tích Truyền Chức Thánh phải có
thật. Không thể trao Mình Thánh Chúa cho một người chưa được
rửa tội hay cho một người chối bỏ chân lý toàn vẹn của đức
tin liên quan đến mầu nhiệm Thánh Thể. Đức Kitô là sự thật và
Ngài làm chứng cho sự thật (x. Ga 14,6; 18,37); bí tích Mình và Máu
Ngài không chấp nhận sự dối trá.
39. Hơn thế nữa, xét đến chính bản chất của sự hiệp thông
giáo hội và mối liên hệ của nó với Thánh Thể, cần phải
nhắc lại rằng “Hy tế Thánh Thể, dù luôn được cử hành tại
một cộng đoàn cụ thể, không bao giờ là việc cử hành của
một mình cộng đoàn đó mà thôi. Quả vậy, khi nhận lãnh sự
hiện diện Thánh Thể của Chúa, cộng đoàn cũng nhận lãnh toàn
bộ hồng ân cứu độ và tỏ lộ rằng, dù trong một dạng thức
tồn tại hữu hình nhất định, nó là hình ảnh và là sự hiện
diện thật sự của Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và
tông truyền.” 79 Từ đó dẫn đến hệ quả là một
cộng đoàn Thánh Thể thực sự không thể khép kín vào chính mình,
như thể tự mình là đủ; trái lại cộng đoàn ấy cần hòa hợp
với các cộng đoàn Công Giáo khác.
Sự hiệp thông giáo hội của một cộng đoàn Thánh Thể là sự
hiệp thông với Giám mục của mình và với Giáo hoàng ở
Rôma. Quả thế, Giám Mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình
của sự hiệp nhất trong Giáo hội địa phương. 80 Do đó,
sẽ là hoàn toàn nghịch lý nếu bí tích tuyệt hảo của sự
hiệp nhất Hội Thánh được cử hành mà không có sự hiệp nhất
thực sự với Giám mục. Như thánh Inhaxiô thành Antiôkia đã
viết: “Thánh Thể nào do Giám mục cử hành, hay do một vị nào
đó được ngài ủy thác, mới có thể được xem là hợp pháp”,
81 Cũng vậy, vì “Giáo hoàng Rôma”, trong tư cách là người
kế vị Thánh Phêrô, là nguyên lý và nền tảng vĩnh cửu và hữu
hình của sự hiệp nhất giữa các Giám mục cũng như giữa các tín
hữu, 82 sự hiệp thông với ngài là một đòi hỏi nội
tại của việc cử hành Hy tế Thánh Thể. Do đó, sự thật lớn
lao này đã diễn tả điều mà Phụng Vụ thể hiện qua nhiều cách
khác nhau: “Mọi cử hành Thánh Thể được thực hiện trong sự
hiệp nhất không chỉ với Giám Mục sở tại, nhưng còn với Giáo
Hoàng, với Giám mục đoàn, với tất cả các giáo sĩ và với toàn
dân Thiên Chúa. Mọi cuộc cử hành thành sự bí tích Thánh Thể đều
diễn tả sự hiệp thông phổ quát này với thánh Phêrô và với
toàn thể Hội Thánh, hoặc đòi buộc cách khách quan điều đó, như
trường hợp của các Giáo hội Kitô ly khai khỏi Rôma”. 83
40. Thánh Thể tạo nên sự hiệp thông và cổ võ sự hiệp thông.
Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu thành Côrintô, chỉ cho họ
thấy rằng những chia rẽ xảy ra nơi các cộng đoàn Thánh Thể thì
trái ngược biết bao với điều mà họ đang cử hành, bữa Tiệc
Ly của Chúa. Vì thế thánh Tông Đồ đã mời gọi họ suy nghĩ
về thực tại đích thực của Thánh Thể, để giúp họ quay về
với tinh thần hiệp thông huynh đệ. (x 1 Cr 11,17-34). Thánh Augustinô
đã vang vọng lại lời kêu gọi này cách đầy hiệu quả, khi
nhắc lại những lời của thánh Tông Đồ: “Anh em là thân thể
Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1 Cr 12,27), ngài
tiếp tục: “Nếu anh em là thân thể Đức Kitô, là chi thể của
Người, anh em sẽ thấy đặt trên bàn của Chúa mầu nhiệm của
anh em. Vâng, anh em sẽ nhận lãnh mầu nhiệm của chính mình”.
84 Và từ nhận xét đó, ngài kết luận: “Chúa Kitô… đã
thánh hiến trên bàn thờ mầu nhiệm bình an và hiệp nhất của chúng
ta. Bất cứ ai nhận lãnh mầu nhiệm hiệp nhất mà không duy trì
những mối giây hòa bình thì không nhận lãnh mầu nhiệm của Người
để được cứu độ, nhưng nhận lãnh một bằng chứng chống
lại chính mình” 85
41. Tác dụng đặc biệt của Thánh Thể trong việc cổ võ sự
hiệp thông là một trong những lý do của tầm quan trọng của Thánh
Lễ Ngày Chúa Nhật. Tôi đã đề cập đến điểm đó và những lý
do khác khiến cho Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật là nền tảng cho đời
sống của Hội Thánh và của mỗi người tín hữu trong Tông Thư Dies
Domini. 86 Trong đó, tôi đã nhắc lại rằng các tín hữu có
bổn phận tham dự Thánh Lễ, trừ phi họ bị ngăn trở cách nghiêm
trọng, và các Mục tử, về phần mình, có bổn phận tương ứng
là tạo cơ hội và khả năng cho mọi người thực thi giáo huấn này.
87 Gần đây hơn, trong Tông Thư Novo Millennio Ineunte, khi
đề ra con đường mục vụ mà Hội Thánh phải theo vào lúc khởi
đầu của ngàn năm thứ ba, tôi đã lôi kéo sự chú ý đặc biệt
đến Phụng Vụ Thánh Thể ngày Chúa Nhật, bằng cách nhấn mạnh
đến tác dụng của nó trong việc xây dựng sự hiệp thông. Tôi
đã viết rằng: “Đó là nơi chốn thuận lợi để sự hiệp thông
không ngừng được công bố và nuôi dưỡng. Chính nhờ sự thông
hiệp vào Thánh Thể, Ngày của Chúa cũng trở thành Ngày
của Hội Thánh, khi Hội Thánh có thể thực hiện cách hiệu
quả vai trò của mình như là bí tích của sự hiệp nhất”.
88
42. Giữ gìn và cổ võ sự hiệp thông giáo hội là một nhiệm
vụ của mỗi người tín hữu, là những người tìm thấy nơi Thánh
Thể, bí tích của sự hiệp nhất giáo hội, một nơi chốn để
biểu lộ sự quan tâm đặc biệt. Cụ thể hơn, nhiệm vụ này là
trách nhiệm đặc biệt của các Mục tử của Hội Thánh, mỗi người
tùy theo thứ bậc và chức vụ trong Giáo hội. Vì lý do này, Hội
Thánh đã đề ra những quy tắc nhằm cổ võ sự tiếp cận thường
xuyên và đem lại ơn ích của các tín hữu với bàn tiệc Thánh
Thể, cũng như nhằm xác định những điều kiện khách quan không
được phép cho chịu lễ. Nhiệt thành cổ võ các tín hữu tuân
giữ những quy tắc này trở thành một cách thức cụ thể biểu
lộ tình yêu dành cho Thánh Thể và cho Hội Thánh.
43. Khi xét đến Thánh Thể như là bí tích của sự hiệp thông giáo
hội, có một chủ đề mà ta không thể bỏ qua vì tầm quan trọng
của nó: tôi muốn nói đến mối liên hệ giữa Thánh Thể và
hoạt động đại kết. Tất cả chúng ta phải cảm tạ Ba Ngôi
Chí Thánh vì, trong những thập niên vừa qua, nhiều tín hữu trên
khắp thế giới đã cảm thấy một khát vọng mãnh liệt tiến
tới sự hiệp nhất các Kitô hữu. Công Đồng Vatican II, khi mở đầu
Sắc Lệnh về Đại Kết, đã xem đó như một quà tặng đặc
biệt của Thiên Chúa. 89 Đó là ơn huệ hữu hiệu thúc
đẩy chúng ta, những con cái nam nữ của Giáo hội Công Giáo và các
anh chị em của các Giáo hội và Cộng đoàn giáo hội khác tiến bước
trên con đường đại kết.
Khát vọng đạt đến hiệp nhất khiến chúng ta hướng về Thánh
Thể, vốn là bí tích tuyệt hảo của sự hiệp nhất đoàn dân
Thiên Chúa, vì nó là biểu hiện hoàn hảo nhất và nguồn mạch vô
song của sự hiệp nhất đó. 90 Khi cử hành Hy tế Thánh
Thể, Hội Thánh cầu xin Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót ban cho
con cái Người tràn đầy Thánh Thần để họ trở nên một thân
thể và một tinh thần trong Đức Kitô. 91 Khi dâng lời
nguyện này lên cùng Chúa Cha nguồn mạch ánh sáng, từ Người tuôn
đổ mọi ơn lành và mọi phúc lộc tuyệt hảo (x. Gc 1,17), Hội Thánh
tin rằng sẽ được nhậm lời, bởi vì Hội Thánh cầu xin trong
sự hiệp nhất với Đức Kitô là Đầu và là Phu Quân của mình,
Đấng nhận lời cầu xin của Hiền Thê và kết hiệp lời cầu
xin này trong của lễ hy sinh cứu chuộc của Người.
44. Chính bởi vì sự hiệp nhất của Hội thánh, mà Thánh Thể
thể hiện qua Hy tế của Chúa và qua sự thông hiệp với Mình và
Máu Người, nhất thiết đòi buộc phải có sự hiệp thông trọn
vẹn trong các mối giây là việc tuyên xưng đức tin, các bí tích
và việc cai quản giáo hội, nên không thể cùng cử hành một
buổi phụng vụ Thánh thể, cho đến khi những mối giây đó được
tái lập trọn vẹn. Bất cứ việc cùng cử hành nào như thế không
thể là một phương thế hữu hiệu, và có nguy cơ tạo nên một
trở ngại cho sự hiệp thông trọn vẹn, vì nó làm chúng ta
bớt ý thức đến sự xa cách với mục tiêu và đem lại hoặc gia
tăng sự hàm hồ đối với chân lý này hay chân lý khác của đức
tin. Con đường tiến về sự hiệp nhất trọn vẹn chỉ có thể
thực hiện trong chân lý. Trong vấn đề này, những luật cấm
của Giáo hội không chấp nhận sự lưỡng lự,92 tuân theo quy
tắc luân lý do Công đồng Vaticanô II đề ra. 93
Dầu vậy, tôi muốn tái khẳng định điều tôi đã nói trong Thông
điệp Ut Unum Sint , sau khi thừa nhận không thể thông
dự vào Thánh Thể: “Chúng ta vẫn tha thiết mong muốn cử hành
chung với nhau Bí tích Thánh Thể duy nhất của Chúa, và ước
muốn này tự nó đã là một lời ca ngợi chung, một lời khẩn
cầu duy nhất. Cùng nhau chúng ta hướng lòng về Chúa Cha và tha
thiết làm điều đó với 'một lòng một ý'”.94
45. Nếu không bao giờ được phép cùng cử hành Thánh lễ khi chưa
có sự hiệp thông trọn vẹn, không phải cũng như vậy trong vấn
đề liên quan đến việc trao ban Thánh Thể, trong những trường
hợp đặc biệt, cho những người thuộc về các Giáo hội hay
các cộng đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh. Thật
vậy, trong trường hợp này, ý hướng là đáp ứng một nhu cầu
thiêng liêng hệ trọng vì phần rỗi đời đời của một tín
hữu, chứ không phải là thực hiện một sự rước lễ chung, vốn
chưa thể thực hiện bao lâu những mối giây hiệp thông hữu hình
với Hội thánh chưa được tái lập trọn vẹn.
Đó là đường lối mà Công đồng Vaticanô II đã chọn khi đưa ra
những hướng dẫn nhằm ứng xử đối với các kitô hữu thuộc
Giáo hội Đông phương, với đức tin đúng đắn, đang tách rời
khỏi Giáo hội Công giáo, nay tự ý xin thừa tác viên công giáo
cho rước lễ và có đầy đủ điều kiện thích đáng. 95
Lối hành xử này sau đó được cả hai bộ Giáo luật phê chuẩn,
trong đó cũng xem xét, với những thay đổi cần thiết, trường
hợp những kitô hữu khác ngoài Giáo hội Đông phương, không
hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội công giáo. 96
46. Trong Thông điệp Ut Unum Sint, tôi cũng đã diễn tả sự
dề cao của tôi đối với các quy tắc đó, vì chúng có thể mang
lại cho các linh hồn ơn cứu rỗi, khi có sự biện phân thích đáng:
"Quả là một lý do để vui mừng khi các thừa tác viên công
giáo, trong những trường hợp nhất định, có thể ban bí tích Thánh
thể, Hoà giải và Xức dầu bênh nhân cho những kitô hữu chưa
hiệp thông trọn vẹn với Hội thánh Công giáo, nhưng hết sức ao
ước lãnh nhận các bí tích đó, tự ý xin và bày tỏ lòng tin đối
với các bí tích đó như Hội thánh tuyên xưng. Ngược lại, trong
những trường hợp nhất định và trong tình huống đặc thù, tín
hữu công giáo cũng có thể xin lãnh nhận các bí tích đó từ
những thừa tác viên của những Giáo hội, trong đó các bí tích
đó thành sự”.97
Những điều kiện này phải được cẩn thận tôn trọng, không
được miễn trừ, ngay cả trong những trường hợp cá biệt, bởi
vì chối bỏ một hoặc nhiều chân lý đức tin đối với các bí
tích, và trong số đó, chân lý về sự cần thiết của linh mục
thừa tác để bí tích thành sự, làm cho việc trao ban bí tích
trở thành bất hợp pháp vì thỉnh nhân không có những tư cách thích
đáng. Và điều ngược lại cũng đúng: những tín hữu công giáo
không thể rước lễ trong những cộng đoàn không có bí tích
Truyền chức thánh thành sự. 98
Việc trung thành tuân giữ toàn thể các quy tắc trong lãnh vực này
99 là một biểu lộ và, đồng thời là một minh chứng cho tình
yêu của chúng ta tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô trong Bí tích
cực thánh và đối với anh chị em thuộc các Giáo hội kitô giáo
- vì họ có quyền chờ đợi nơi chúng ta chứng tá về sự thật
- và đối với chính sự nghiệp cổ võ sự hiệp nhất.
CHƯƠNG
V
PHẨM GIÁ CỦA VIỆC CỬ HÀNH THÁNH THỂ
47. Khi đọc bài trình thuật về việc thiết lập Bí
tích Thánh Thể trong các Sách Tin mừng nhất lãm, chúng ta cảm kích
trước sự đơn sơ và “long trọng” của việc Đức Giêsu
thiết lập Bí tích cao trọng này trong buổi chiều bữa Tiệc ly. Có
một đoạn Tin mừng, theo một nghĩa nào đó, được dùng như khúc
dạo đầu: Xức dầu tại Bêtania. Một phụ nữ, mà Gioan xác
định là Maria, chị của Ladarô, đổ một bình dầu thơm quý giá
trên đầu Đức Giêsu, việc này khiến cho các môn đệ - và
nhất là Giuđa (x. Mt 2,8; Mc 14,4; Ga 12,4) - phản đối,
như thể hành động này là một sự “phung phí” không thể
chấp nhận khi xét tới nhu cầu của người nghèo. Nhưng phản
ứng của Đức Giêsu thì lại khác. Cho dù không hề chuẩn chước
nhiệm vụ bác ái đối với người nghèo túng, mà các môn đệ
phải luôn luôn đặc biệt quan tâm - “người nghèo thì anh em sẽ
luôn có với anh em” (Mt 26, 11; Mc 14,7; x. Ga 12,8)
- Đức Giêsu hướng về cái chết và việc mai táng sắp đến
của Người, và xem hành động xức dầu này như một việc thể
hiện trước trước vinh dự mà thân xác của Người sẽ tiếp
tục được hưởng ngay cả sau khi chết, vì nó liên kết chặt
chẽ với mầu nhiệm ngôi vị của Người.
Trong các sách Tin mừng nhất lãm, trình thuật tiếp tục với
việc Đức Giêsu giao cho các môn đệ chuẩn bị cẩn thận “một
căn phòng rộng rãi trên lầu” để ăn lễ Vượt qua (x. Mc 14,15;
Lc 22,12) và việc thiết lập Bí tích Thánh Thể. Trong khi mô
tả ít là một phần khung cảnh nghi thức ăn lễ Vượt qua cho đến
phần hát thánh vịnh Hallel (x. Mt 26,30; Mc 14,26), trình
thuật trình bày cách đơn sơ và trang trọng, ngay cả trong những
dị bản của những truyền thống khác nhau, những lời Đức Giêsu
phán truyền trên bánh và rượu, qua đó Người biến thành những
diễn tả cụ thể việc trao ban Mình Người và tuôn đổ Máu Người.
Tất cả những chi tiết này được các tác giả sách Tin mừng biên
soạn dưới ánh sáng của thực hành “lễ bẻ bánh” đã được
thiết lập vững bền trong Hội thánh tiên khởi. Nhưng chắc chắn
kể từ Đức Giêsu trở về sau, biến cố Thứ Năm thánh đã mang
rõ rệt những nét của một “nhạy cảm” có tính phụng vụ
được khuôn đúc trên truyền thống Cựu ước và sẵn sàng được
khuôn đúc lại trong các cử hành kitô giáo, cho phù hợp với nội
dung mới mẻ của Biến cố Phục sinh.
48. Giống như người phụ nữ xức dầu cho Đức Giêsu tại Bêtania,
Hội Thánh không ngần ngại “phung phí”, khi dành những tài
nguyên tốt nhất để bày tỏ lòng tôn kính và thờ phượng của
mình đối với quà tặng vô giá là Thánh Thể. Cũng như các
môn đệ tiên khởi được Chúa giao phó việc chuẩn bị “căn phòng
rộng rãi trên lầu”, Hội thánh cảm thấy có nhu cầu, trong
suốt các thời đại và qua việc tiếp xúc với các nền văn hoá
khác nhau, phải cử hành Thánh Thể trong một khung cảnh xứng đáng
với mầu nhiệm quá cao trọng này. Phụng vụ kitô giáo được
khai sinh dựa trên lời nói và hành động của chính Đức Giêsu
, và được xây dựng trên di sản của nghi lễ do thái giáo.
Làm thế nào để diễn tả cách thích hợp việc đón nhận quà
tặng mà vị Hôn phu thần linh không ngừng trao ban cho Hiền thê
của mình tức là Hội thánh, bằng cách đem đến cho những thế
hệ tín hữu kế tiếp Hy tế đã được dâng hiến trên Thánh giá
một lần duy nhất thay cho tất cả, và vì thế, trở nên của ăn
nuôi sống mọi tín hữu? Cho dẫu ý niệm “bữa tiệc” tự nhiên
gợi lên sự thân tình, nhưng Hội thánh không bao giờ chiều theo cơn
cám dỗ muốn tầm thường hoá sự “thân tình” này với Vị Hôn
phu, khi quên rằng Người cũng là Chúa của mình, và “bữa
tiệc” đó luôn luôn vẫn là một bữa tiệc hy tế được đóng
ấn bởi máu đã đổ ra trên đồi Gôngôta. Bữa tiệc Thánh
Thể quả là một bữa tiệc “thánh”, trong đó sự đơn sơ
của các dấu chỉ che giấu sự thánh thiện khôn dò của Thiên Chúa:
O sacrum convivium, in quo Christus sumitur! (Ôi bàn tiệc thánh, nơi
Đức Kitô được đón nhận). Tấm bánh được bẻ ra trên bàn thánh
của chúng ta, được trao ban cho chúng ta như của ăn đường trong
cuộc lữ hành trên trần gian, là bánh các thiên thần, mà người
ta không thể tới gần nếu không có sự khiêm hạ của viên đại
đội trưởng trong Tin mừng: “Lạy Chúa, tôi chẳng đáng rước
Chúa vào nhà tôi” (Mt 8,8; Lc 7,6).
49. Với ý nghĩa cao cả này của mầu nhiệm, chúng ta hiểu rằng
đức tin của Hội Thánh đối với mầu nhiệm Thánh Thể phải
được diễn tả trong lịch sử, không chỉ bằng thái độ đạo
đức nội tâm, nhưng còn bằng những hình thức bên ngoài nhằm
gợi lên và nêu bật sự cao cả của biến cố đang cử hành. Từ
đó nảy sinh tiến trình dẫn đến việc quy định một quy chế
riêng cho phụng vụ Thánh Thể, trong khi vẫn tôn trọng những
truyền thống khác nhau đã được thiết lập hợp pháp trong Hội
Thánh. Dựa trên nền tảng này, một gia sản mỹ thuật phong phú
cũng phát triển. Kiến trúc, điêu khắc, hội họa và âm
nhạc, được mầu nhiệm kitô giáo hướng dẫn, đã tìm thấy
trong Thánh Thể, cách trực tiếp hay gián tiếp, một nguồn mạch
cảm hứng lớn lao.
Đó là trường hợp, chẳng hạn, của kiến trúc, một khi hoàn
cảnh lịch sử cho phép, những việc cử hành thánh thể đầu tiên
đã di chuyển từ domus (nhà) của các gia đình kitô hữu đến
các vương cung thánh đường uy nghi trong những thế kỷ đầu,
rồi đến các đại thánh đường đồ sộ thời Trung cổ và
cuối cùng, đến các nhà thờ lớn nhỏ lần hồi xuất
hiện trên khắp những vùng đất mà Kitô giáo đặt chân đến.
Những mẫu thiết kế các bàn thờ và nhà tạm bên trong Nhà thờ
thường không đơn thuần chỉ do cảm hứng nghê thuật thúc đẩy,
nhưng còn do sự am hiểu về mầu nhiệm. Điều đó cũng có thể nói
về Thánh nhạc, nếu chúng ta nghĩ tới những giai điệu
Gregorien đầy cảm hứng và nhiều nhà soạn nhạc, thường khá
nổi tiếng, đã phổ nhạc cho các bản văn phụng vụ của Thánh
lễ. Cũng vậy, làm sao chúng ta có thể bỏ qua vô số tác phẩm
nghệ thuật trong lãnh vực trang trí và phẩm phục được dùng
trong cử hành phụng vụ, từ thủ công mỹ nghệ tinh xảo đến các
công trình nghệ thuật đích thực.
Ta có thể nói rằng Thánh Thể, trong khi đào tạo Hội Thánh và đời
sống thiêng liêng, cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên “văn hoá”,
và mỹ thuật cách riêng.
50. Trong nỗ lực tôn thờ Mầu nhiệm, dưới khía cạnh nghi lễ và
mỹ thuật, có một sự “tranh đua” nào đó giữa các kitô hữu
Tây phương và Đông phương. Làm sao chúng ta lại không cảm tạ Chúa,
đặc biệt vì những đóng góp của các công trình kiến trúc và
nghệ thuật vĩ đại của truyền thống Hi Lạp - Byzantin và của
những miền đất chịu ảnh hưởng văn hoá Slavô cho nghệ thuật
kitô giáo? Tại Đông phương, nghệ thuật thánh đã bảo tồn một
cảm thức rất nhạy bén đối với mầu nhiệm, khiến các nghệ sĩ
nhận thấy rằng những nỗ lực của họ nhằm tạo nên cái đẹp,
không chỉ đơn thuần là một cách phô diễn các tài năng, nhưng cũng
còn là một sự phục vụ đích thực cho đức tin. Vượt lên trên
kỹ năng chuyên môn thuần túy, họ đã tỏ ra ngoan ngùy và cởi
mở đón nhận sự linh hứng của Thánh Thần.
Những công trình kiến trúc và chạm trổ lộng lẫy của các kitô
hữu Đông và Tây Phương là một gia sản thuộc về mọi tín
hữu; chúng mang trong mình một niềm hy vọng, và thậm chí là một
bảo chứng, của ước muốn hiệp thông trọn vẹn trong đức tin và
trong cử hành. Điều này giả định và đòi hỏi, như trong bức
danh hoạ về Thiên Chúa Ba ngôi của Rublev, Hội Thánh phải có
“tính chất thánh thể” sâu xa, nơi đó sự tham dự vào mầu
nhiệm Đức Kitô trong tấm bánh được bẻ ra như thể được đắm
chìm vào sự hiệp nhất vô song của Ba ngôi Thiên Chúa, biến Hội
thánh thành hình tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Trong bối cảnh của một loại nghệ thuật có mục tiêu là diễn
tả, qua các yếu tố của nó, ý nghĩa của Thánh Thể trong sự phù
hợp với giáo huấn của Hội thánh, cần lưu ý đến những quy
tắc liên quan đến việc xây dựng và trang trí các công trình
thánh. Như lịch sử cho thấy và như tôi đã nhấn mạnh trong Thư
gởi các Nghệ sĩ, 100 Hội Thánh đã luôn dành cho các nghệ sĩ
môt không gian khoáng đạt để sáng tác. Tuy nhiên, nghệ thuật thánh
phải nêu bật khả năng phô diễn cách thích đáng mầu nhiệm
chứa đựng trong đức tin trọn vẹn của Hội thánh và theo những
chỉ dẫn mục vụ do quyền bính có thẩm quyền đề ra cách thích
hợp. Điều này có giá trị cho cả nghệ thuật tạo hình lẫn thánh
nhạc.
51. Sự phát triển của nghệ thuật thánh và kỷ luật
phụng vụ, vốn đã xảy ra tại những miền đất có một gia
sản kitô giáo cổ kính, cũng xảy ra tại những lục địa có
những cộng đoàn kitô hữu non trẻ hơn. Đó chính là đường
hướng đã được Công đồng Vatican II cổ võ liên quan đến nhu
cầu “hội nhập văn hoá” cách lành mạnh và thích hợp. Trong
nhiều chuyến công du mục vụ, tôi đã nhận thấy, trên khắp
thế giới, một sức sống mãnh liệt mà các buổi cử hành Thánh
Thể có thể biểu lộ qua những hình thức, phong cách và cảm
thức của các nền văn hoá khác nhau. Khi thích nghi với những hoàn
cảnh thay đổi về thời gian và nơi chốn, Thánh Thể cung cấp lương
thực không những cho những cá nhân, nhưng còn cho các dân tộc, và
khuôn đúc các nền văn hoá theo tinh thần kitô giáo.
Tuy nhiên, công việc thích nghi quan trọng này cần phải được
tiến hành với một ý thức liên lỉ về Mầu nhiệm khôn tả mà
mọi thế hệ được mời gọi đo lường chính mình. “Kho báu”
thật quá lớn lao và quý giá đến nỗi ta có nguy cơ làm cho nó
trở nên nghèo nàn hay bị tổn hại qua những hình thức thử
nghiệm hay thực hành mà không có sự xem xét cẩn thận của
những quyền bính có thẩm quyền trong Hội thánh. Hơn nữa, tính
chất trung tâm của Mầu nhiệm Thánh Thể đòi buộc sự thẩm tra
này phải được thực hiện trong sự liên kết chặt chẽ với Toà
thánh. Như tôi đã viết trong Tông huấn hậu Thượng Hội đồng
Giám mục Châu Á Giáo hội tại Á Châu , “một sự
hợp tác như thế là thiết yếu, bởi vì Phụng vụ thánh diễn
tả và cử hành một đức tin duy nhất mà mọi người tuyên xưng
và vì là gia sản của toàn thể Hội Thánh, nên không thể được
các Giáo hội địa phương định đoạt cách riêng rẽ khỏi Giáo
hội hoàn vũ”.101
52. Tất cả những điều đó cho thấy trách nhiệm nặng nề,
thuộc về các Linh mục cách riêng, trong việc cử hành Thánh lễ.
Đó là trách nhiệm chủ toạ Thánh lễ trong tư cách của Đức
Kitô, trách nhiệm làm chứng và phục vụ cho sự hiệp thông không
chỉ của cộng đoàn đang tham dự trực tiếp buổi cử hành, nhưng
còn của Hội thánh hoàn vũ, vốn là một thành phần của mọi
cử hành Thánh Thể. Phải lấy làm tiếc, nhất là từ những năm
sau cuộc cải tổ phụng vụ hậu Công đồng, vì nhận thức lệch
lạc về tính sáng tạo và thích nghi, mà đã có một số lạm
dụng gây nên đau khổ cho nhiều người. Một phản ứng nào đó
chống lại “chủ nghĩa duy hình thức” đã đưa đẩy một số
người, nhất là trong một vài vùng nào đó, xem những “nghi
thức” đã được truyền thống phụng vụ cao quý của Hội thánh
và Huấn quyền chọn lựa, như là những điều không bó buộc và
đưa vào đó những sự đổi mới không được phép và thường hoàn
toàn không thích đáng.
Vì thế tôi cảm thấy có bổn phận khẩn thiết kêu gọi mọi người
rằng các quy luật phụng vụ trong việc cử hành Thánh lễ phải
được tuân giữ một cách hết sức trung thành. Những quy luật này
là một sự diễn tả cụ thể bản chất giáo hội đích thật
của Thánh Thể; đó chính là ý nghĩa thâm sâu nhất của các quy
luật đó. Phụng vụ không bao giờ là tài sản riêng của bất
cứ ai, không phải của Linh mục chủ lễ, cũng không phải của
cộng đoàn trong đó cử hành các Mầu nhiệm. Thánh Phaolô tông đồ
đã thốt lên những lời cứng rắn với cộng đoàn Côrintô, vì có
những thiếu sót trầm trọng trong việc cử hành Thánh lễ, đưa
đến những sự chia rẽ (schismata ) và làm nảy sinh các bè
phái (haireseis ) (x. 1 Cr 11,17-34). Cả trong thời đại chúng
ta nữa, việc tuân thủ các quy luật phụng vụ cần được tái khám
phá và đề cao để phản ánh và làm chứng cho Hội thánh phổ quát
duy nhất hiện diện trong mọi cử hành Thánh lễ. Các Linh mục
cử hành Thánh lễ một cách trung thành theo các quy luật phụng
vụ và các cộng đoàn tuân theo những quy tắc đó, biểu lộ tuy
âm thầm, nhưng cách hùng hồn, tình yêu đối với Hội Thánh. Chính
vì để làm sáng tỏ hơn ý nghĩa sâu xa của các quy luật phụng
vụ, tôi đã xin các cơ quan thẩm quyền của Toà thánh Rôma chuẩn
bị một tài liệu chi tiết hơn về đề tài rất quan trọng này,
trong đó bao gồm cả những quy định về pháp lý. Không ai được
phép hạ giá mầu nhiệm được giao phó trong tay chúng ta: mầu
nhiệm đó quá cao trọng đến nỗi không ai được cảm thấy tự
do hành động cách tùy tiện và xem nhẹ tính thiêng thánh và
chiều kích phổ quát của nó.
CHƯƠNG VI
TẠI TRƯỜNG HỌC CỦA ĐỨC MARIA,
“NGƯỜI PHỤ NỮ CỦA THÁNH THỂ”
53. Nếu chúng ta muốn tái khám phá mối tương quan sâu
xa giữa Hội Thánh và Thánh Thể trong tất cả sự phong phú của nó,
chúng ta không thể quên Đức Maria, người Mẹ và mẫu gương của
Hội Thánh. Trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae , tôi đã
nhấn mạnh Đức Thánh Trinh nữ Maria là Thầy dạy chúng ta trong
việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Kitô, và tôi đã ghi biến cố
thiết lập Thánh Thể vào trong số các mầu nhiệm ánh sáng.102
Đức Maria có thể dẫn chúng ta hướng về bí tích rất thánh này,
bởi vì chính ngài có một liên hệ sâu xa với bí tích ấy.
Thoạt nhìn, Tin mừng không nói gì đến đề tài này. Thuật trình
về việc thiết lập Thánh Thể trong đêm Thứ Năm Thánh không đề
cập đến Đức Maria. Tuy nhiên chúng ta biết rằng ngài hiện
diện với các Tông đồ đang “đồng tâm nhất trí” cầu
nguyện (x. Cv 1,14) trong cộng đoàn đầu tiên tụ họp nhau
lại sau biến cố lên trời để chờ đợi biến cố hiện xuống.
Chắc chắn Đức Maria đã hiện diện trong các buổi cử hành Thánh
Thể của thế hệ Kitô hữu tiên khởi đang siêng năng tham dự
“lễ bẻ bánh” (Cv 2,42).
Nhưng ngoài việc tham dự bàn tiệc Thánh Thể, ta có thể gián
tiếp đoán được mối liên hệ giữa Đức Maria với Thánh Thể
khởi đi từ thái độ nội tâm của ngài. Suốt cả cuộc đời,
Đức Maria là một “phụ nữ của Thánh Thể ”. Hội Thánh,
khi nhìn đến Đức Maria như một gương mẫu, cũng được mời
gọi noi gương ngài trong mối tương quan với mầu nhiệm rất thánh
này.
54. Mysterium fidei! Nếu Thánh Thể là một mầu nhiệm đức
tin vượt quá sự hiểu biết đến độ chúng ta phải phó thác hoàn
toàn vào lời của Thiên Chúa, thì không ai bằng Đức Maria có
thể nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta đạt được thái độ đó.
Khi chúng ta làm lại cử chỉ của Đức Kitô trong bữa Tiệc ly, vâng
theo lệnh truyền của Người: “Hãy làm việc này mà nhớ đến
Thầy!”, chúng ta cũng đón nhận lời mời gọi của Đức Maria
khuyên nhủ chúng ta đừng ngần ngại vâng phục Người: “Người
bảo gì các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Với cùng một
sự ân cần mẫu tử mà ngài đã tỏ ra trong tiệc cưới Cana, Đức
Maria dường như nói với chúng ta: “Đừng ngần ngại; hãy tín thác
vào lời của Con Mẹ. Nếu Người đã biến đổi nước thành rượu,
Người cũng có thể biến bánh rượu thành Mình và Máu Người, và
qua mầu nhiệm này Người ban cho các kẻ tin kỷ niệm sống động
về cuộc vượt qua của Người, để trở thành ‘bánh sự
sống'”.
55. Theo một nghĩa nào đó, Đức Maria đã sống đức tin về phép
Thánh Thể ngay cả trước khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, chính
bởi sự kiện ngài đã dâng hiến cung lòng trinh bạch để Ngôi
Lời Thiên Chúa nhập thể. Khi tưởng nhớ cuộc khổ nạn và
sống lại, Thánh Thể cũng đặt mình trong sự tiếp nối với
biến cố nhập thể. Khi được truyền tin, Đức Maria đã cưu mang
Con của Thiên Chúa trong thực tại thể lý là Mình và Máu Người,
vì thế thể hiện trước trong chính bản thân ngài điều xảy ra
cách bí tích ở một mức độ nào đó nơi mọi tín hữu rước Mình
Máu Chúa dưới hình bánh rượu.
Như thế, có một tương đồng sâu xa giữa tiếng Fiat của
Đức Maria đáp lại lời thiên thần, và tiếng Amen mà mọi
tín hữu thưa khi lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Đức Maria được
mời gọi tin Đấng mà ngài cưu mang “bởi phép Chúa Thánh
Thần” là “Con của Thiên Chúa” (Lc 1,30-35). Tiếp nối
với đức tin của Đức Trinh nữ, chúng ta được mời gọi tin
rằng, trong Mầu nhiệm Thánh Thể, chính Đức Giêsu Kitô, Con của
Thiên Chúa và Con của Đức Maria, trở nên hiện diện trong nhân tính
và thiên tính trọn vẹn của Người dưới hình bánh rượu.
“Em thật có phúc vì đã tin” (Lc 1,45). Đức Maria cũng đã
sống trước đức tin về Bí tích Thánh Thể của Hội Thánh qua
mầu nhiệm nhập thể. Khi ngài mang trong cung lòng Ngôi Lời mặc
lấy xác phàm vào dịp Thăm viếng, ngài đã trở nên một cách nào
đó một “nhà tạm” - “nhà tạm” thứ nhất trong lịch sử -
trong đó Con Thiên Chúa, tuy vẫn còn vô hình trước cái nhìn nhân
loại của chúng ta, đã để cho Êlisabét thờ lạy mình, khi chiếu
toả ánh sáng của Người qua đôi mắt và giọng nói của Đức
Maria. Và cái nhìn mê mẩn của Đức Maria khi ngài chiêm ngưỡng
dung nhan Đức Kitô vừa mới hạ sinh và và ôm ấp Người trong vòng
tay chẳng là mẫu gương tuyệt vời về tình yêu, gợi hứng cho chúng
ta mỗi khi rước lễ sao?
56. Suốt thời gian sống bên cạnh Đức Kitô chứ không chỉ nguyên
ở đồi Canvê, Đức Maria đã xem như của mình chiều kích hy
tế của Thánh Thể. Khi đem hài nhi Giêsu lên Đền thánh ở Giêrusalem
“để dâng cho Chúa” (Lc 2,22), ngài đã nghe cụ già Simêon
loan báo rằng con trẻ sẽ là một “dấu chỉ chống đối” và
một lưỡi gươm cũng sẽ đâm thấu tâm hồn mình (x. Lc 2,34-35).
Như thế bi kịch về Con của ngài bị đóng đinh đã được tiên
báo, và theo một nghĩa nào đó “Stabat Mater” của đức Trinh
nữ dưới chân Thánh giá đã được biểu hiện trước. Khi ngày
qua ngày chuẩn bị cho biến cố đồi Canvê, Đức Maria đã kinh
nghiệm một thứ “nếm cảm trước Bí tích Thánh Thể” - ta có
thể nói một “sự rước lễ thiêng liêng” - bao bồm ước
muốn và sự hiến dâng, điều đó sẽ đạt đến cao độ khi ngài
kết hiệp với Chúa Con trong cuộc khổ nạn, và sau đó được
diễn tả, sau ngày Phục sinh, bằng việc tham dự Thánh Thể mà các
Tông đồ cử hành để tưởng nhớ cuộc khổ nạn ấy.
Đức Maria đã cảm nghiệm như thế nào khi nghe từ miệng của Phêrô,
Gioan, Giacôbê và các Tông đồ khác những lời đã được thốt lên
tại bữa Tiệc ly: “Này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc
22:19)? Thân mình được trao ban cho chúng ta và nên hiện diện dưới
các dấu chỉ bí tích cũng là thân mình mà ngài đã cưu mang trong
lòng dạ! Đối với Đức Maria, tiếp rước Mình Thánh phải như
thể là đón nhận lại một lần nữa vào trong lòng dạ mình trái
tim đã đập cùng nhịp với mình và sống lại điều mà ngài đã
kinh nghiệm dưới chân Thánh giá.
57. “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Trong
“việc tưởng niệm” đồi Canvê tất cả những gì Đức Kitô
đã thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người đều
hiện diện. Do đó tất cả những gì Đức Kitô đã thực hiện
liên quan đến Mẹ của Người, Người cũng thực hiện vì
phần rỗi chúng ta. Người đã trao cho Mẹ người môn đệ yêu
dấu và, trong người môn đệ ấy, trao phó mỗi người chúng ta:
“Này là con bà!” Với mỗi người chúng ta Người cũng nói: “Này
là mẹ con!” (x. Ga 19,26-27).
Tưởng niệm cái chết của Đức Kitô trong Thánh Thể cũng có nghĩa
là liên tục đón nhận quà tặng này. Điều đó có nghĩa là đón
nhận - noi gương thánh Gioan - Đấng đã được trao ban cho chúng ta
một lần nữa như là Mẹ chúng ta. Điều đó cũng có nghĩa là
dấn thân để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô,
bằng cách theo học ở trường học của Mẹ Người và để ngài
đồng hành với chúng ta. Đức Maria hiện diện, cùng với Hội Thánh
và như Mẹ của Hội Thánh, mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Thể.
Nếu Hội Thánh và Thánh Thể được nối kết mật thiết với
nhau, cũng có thể nói như thế về Đức Maria và Thánh Thể. Đó là
một lý do tại sao, từ thời xa xưa, việc tưởng nhớ Đức Maria
đã luôn là thành phần của việc cử hành Thánh Thể trong Giáo
hội Tây phương và Đông phương.
58. Trong Thánh Thể, Hội Thánh được kết hiệp trọn vẹn với Đức
Kitô và hy tế của Người, và sống lại tâm tình của Đức
Maria. Đây là một chân lý mà ta có thể đào sâu khi đọc lại
kinh Magnificat theo một viễn tượng liên quan đến Thánh Thể.
Thánh Thể, giống bài thánh ca của Đức Maria, trước tiên và trên
hết là lời ca ngợi và tạ ơn. Khi Đức Maria thốt lên: “Linh
hồn tôi ngợi khen Đức Chúa và thần trí tôi hớn hở trong Thiên
Chúa Đấng cứu dộ tôi”, Mẹ đã mang Đức Giêsu trong cung lòng
Mẹ. Mẹ ca ngợi Chúa Cha “qua” Đức Giêsu, nhưng Mẹ cũng ca
ngợi Người “trong” Đức Giêsu và “với” Đức Giêsu. Đó cũng
chính là “tâm tình tạ ơn” đích thực.
Đồng thời Đức Maria nhắc lại những kỳ công được Thiên Chúa
thực hiện trong lịch sử cứu độ, như đã hứa cùng cha ông (x. Lc
1:55), và loan báo kỳ công trổi vượt hơn cả, mầu nhiệm
nhập thể cứu chuộc. Cuối cùng, kinh Magnificat phản ánh
chiều hướng cánh chung của Thánh Thể. Mỗi khi Con Thiên Chúa
lại đến với chúng ta trong sự “nghèo khó” của những dấu
chỉ bí tích là bánh và rượu, mầm mống của lịch sử mới
trong đó người quyền thế “bị hạ bệ khỏi ngai vàng” và
“người hèn hạ được nâng cao” (x. Lc 1:52), được gieo vãi
trong trần gian. Đức Maria hát khen “trời mới” và “đất
mới”, trời đất mới ấy tìm được trong Thánh Thể sự thể
hiện trước và theo một nghĩa nào đó chương trình và kế hoạch
của nó. Kinh Magnificat diễn tả đời sống thiêng liêng của
Đức Maria, và không gì quý báu hơn đời sống thiêng liêng ấy để
giúp ta cảm nghiệm mầu nhiệm Thánh Thể. Thánh Thể đã được
trao ban cho chúng ta để đời sống chúng ta hoàn toàn trở nên
một bài Magnificat, giống như cuộc đời của Đức Maria
!< br>
KẾT LUẬN
59. Ave, verum corpus natum de Maria Virgine! (Kính lạy
thân mình đích thực, sinh từ lòng Đức Trinh nữ Maria ). Cách đây
vài năm, tôi đã mừng kỷ niệm kim khánh linh mục. Hôm nay tôi
được diễm phúc gởi đến Hội thánh thông điệp về Thánh Thể
vào ngày thứ Năm tuần thánh, đúng vào năm thứ 25 sứ vụ giáo
hoàng của tôi. Khi ban hành thông điệp này, tâm hồn tôi tràn
ngập lòng biết ơn. Hơn nửa thế kỷ qua, suốt mọi ngày, kể
từ khi tôi cử hành thánh lễ đầu tiên tại mộ phần thánh Lêônácđô
trong Vương cung Thánh đường Wavel ở thành phố Krakov, đôi mắt tôi
chăm chú nhìn tấm bánh và chén rượu, thời gian và không gian như
“quyện vào nhau”, thảm kịch Gôngôta tái hiện cách sinh động,
tỏ lộ tính “đương đại” (contemporaneity) nhiệm mầu của nó.
Mỗi ngày, đức tin của tôi đã nhận ra trong Bánh thánh và Rượu
thánh, người Lữ khách thần linh đã từng đồng hành với hai môn
đệ trên đường Emmau và đã làm cho mắt họ nhìn thấy ánh sáng
và tâm hồn họ chan chứa niềm hy vọng mới (x. Lc 24,13-35).
Anh chị em rất thân mến, cho phép tôi chia sẻ chứng tá đức tin
của cá nhân tôi đối với bí tích Thánh Thể cực thánh, trong
một sự tuôn trào niềm vui nội tâm, như là một cách thức để
thông hiệp với đức tin của anh chị em và củng cố đức tin anh
chị em. Ave verum corpus natum de Maria Virgine, vere passum, immolatum, in
cruce pro homine! (Kính chào thân mình đích thực, sinh từ lòng
dạ Đức Trinh nữ, đã thực sự chịu đau khổ, bị sát tế và
treo trên Thánh giá vì loài người!) Đây là kho báu của Hội thánh,
là con tim của thế giới, là bảo chứng của sự thành toàn mà
mọi người nam nữ khao khát, dù không ý thức. Quả là một mầu
nhiệm cao trọng và siêu việt, một mầu nhiệm đòi buộc trí năng
chúng ta phải vượt qua những vẻ bên ngoài. Ở đây, các giác
quan của chúng ta trở nên vô dụng: visus, tactus, gustus in te
fallitur, như trong thánh thi Adoro Te Devote; song chỉ có đức
tin mà thôi, một đức tin cắm rễ trong Lời của Đức Kitô do các
Tông đồ truyền lại cho chúng ta, là đủ cho chúng ta. Cho phép tôi,
như thánh Phêrô trong diễn từ Thánh Thể trong Tin mừng Gioan, nhân
danh toàn thể Hội thánh và mỗi một anh chị em mà thưa lên với
Đức Kitô một lần nữa: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con
biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời
đời” (Ga 6,68).
60. Vào buổi hừng đông của thiên niên kỷ thứ ba này, là con cái
Hội Thánh, chúng ta được mời gọi đảm nhận với một nhiệt tình
mới mẻ, cuộc hành trình của đời sống kitô hữu. Như tôi đã
viết trong Tông thư Novo Millennio Ineunte, “Vấn đề không
phải là sáng chế một ‘chương trình mới’. Chương trình đã có
sẵn: đó là kế hoạch rút ra từ Tin mừng và truyền thống sống
động; kế hoạch đó luôn mãi là một. Tựu trung, tâm điểm là
chính Đức Kitô, Đấng mà chúng ta hiểu biết, yêu mến và bắt
chước, để trong Người chúng ta có thể sống sự sống của Thiên
Chúa Ba ngôi, và với Người, chúng ta biến đổi lịch sử, cho
tới khi được hoàn thành tại Giêrusalem trên trời”.103 Kế
hoạch nhằm tạo nên một đà tiến mới cho cuộc sống kitô hữu
đi ngang qua Thánh Thể.
Mọi cam kết nên thánh, mọi hoạt động nhằm thực hiện sứ vụ
của Hội thánh, mọi công tác trong kế hoạch mục vụ, phải múc
lấy sức mạnh cần thiết từ mầu nhiệm Thánh Thể và quy hướng
về mầu nhiệm đó như là tột đỉnh của mình. Trong Thánh Thể,
chúng ta có Đức Giêsu, chúng ta có hy tế cứu độ của Người,
chúng ta có sự sống lại của Người, chúng ta có ân ban của Chúa
Thánh Thần, chúng ta có sự tôn thờ, vâng phục và tình yêu đối
với Chúa Cha. Nếu xem thường Thánh Thể, làm sao chúng ta có thể
khắc phục sự bất toàn của chúng ta?
61. Mầu nhiệm Thánh Thể - hy tế, hiện diện, bàn tiệc - không
được phép cắt xén hay lợi dụng; nhưng phải được cảm
nhận và được sống trong sự toàn vẹn của nó, cả trong việc
cử hành lẫn trong những lời đàm thoại thân mật với Đức Giêsu
sau khi rước lễ hoặc những giờ phút thờ phượng Thánh Thể ngoài
Thánh lễ. Đó là lúc Hội Thánh được xây dựng cách vững bền
và cho thấy rõ ràng Hội thánh là gì: duy nhất, thánh thiện, công
giáo và tông truyền; là dân Chúa, là đền thờ và gia đình của
Thiên Chúa; là nhiệm thể và hiền thê của Đức Kitô, được
sống động nhờ Chúa Thánh Thần; là bí tích phổ quát của ơn
cứu độ và là một sự hiệp thông có cơ cấu và phẩm trật.
Con đường Hội thánh đi qua trong những năm đầu tiên của thiên
niên kỷ thứ ba cũng là một con đường dấn thân mới mẻ về
đại kết. Những thập niên cuối cùng của thiên niên kỷ
thứ hai, đã thúc dục chúng ta tiến bước trên con đường này và
kêu gọi tất cả những người đã chịu phép Thánh tẩy đáp
lại lời cầu nguyện của Đức Giêsu “ut unum sint” (Xin
cho họ nên một) (Ga 17,11). Con đường này thì dài và có
nhiều chướng ngại vượt quá khả năng phàm hèn của chúng ta, nhưng
chúng ta có Thánh Thể, và trước sự hiện diện của Thánh Thể,
chúng ta có thể nghe trong thâm cung cõi lòng, như thể đang nói
với chúng ta, chính những lời ngôn sứ Êlia đã nghe: “Hãy chỗi
dậy mà ăn, vì đường còn dài” (1 V 19,7). Kho tàng Thánh
Thể mà Chúa đặt để trước mặt chúng ta, thúc bách chúng ta hướng
về mục tiêu là hiệp thông trọn vẹn với tất cả anh chị em,
được liên kết với chúng ta nhờ Bí tích Thánh tẩy chung. Dẫu
sao, để kho tàng này đừng bị hoang phí, chúng ta cần tôn trọng
những đòi hỏi phát xuất từ sự thật này: đây là bí tích
của sự hiệp thông trong đức tin và trong sự kế tục các tông
đồ.
Khi chúng đặt Thánh Thể vào vị trí nổi bật như đáng được,
và hết sức quan tâm không để giảm thiểu bất cứ chiều kích
hay đòi hỏi nào của bí tích đó, chúng ta chứng tỏ là mình
thật sự nhận thức sự cao quý của quà tặng này. Chúng ta bị
thúc đẩy phải thực hiện như thế vì truyền thống liên tục, mà
từ những thế kỷ đầu tiên, cộng đoàn kitô hữu đã luôn
thận trọng bảo vệ “kho tàng” này. Do tình yêu thúc đẩy,
Hội thánh lo lắng truyền lại cho các kitô hữu trong các thế hệ
mai sau, mà không để mất một yếu tố nào, đức tin và giáo
huấn của mình về mầu nhiệm Thánh Thể. Chẳng sợ dư thừa
trong việc quan tâm đến mầu nhiệm này, vì “trong bí tích này thâu
tóm tất cả mầu nhiệm cứu độ của chúng ta”.104
62. Anh chị em thân mến, chúng ta vào học trong trường học
của các thánh, những người thể hiện cách tuyệt vời lòng sùng
kính đích thật đối với Thánh Thể. Nhờ các ngài, thần học
về Thánh Thể mang tất tất cả vẻ huy hoàng của một thực tại
sống động; nó thấm nhiễm chúng ta và, có thể nói, “sưởi
ấm tâm hồn chúng ta”. Trên hết, chúng ta hãy lắng nghe Đức
Maria rất thánh, trong Mẹ, hơn bất cứ ai khác, mầu nhiệm Thánh
Thể toả rạng như một mầu nhiệm ánh sáng. Nhìn lên Đức
Maria, chúng ta biết được sức mạnh biến đổi của Thánh
Thể. Trong Mẹ, chúng ta nhìn thấy thế giới được đổi mới
trong tình yêu. Khi chiêm ngưỡng Mẹ, Đấng đã lên trời cả hồn
lẫn xác, chúng ta thấy mở ra trước mắt “trời mới” và “đất
mới” sẽ xuất hiện trong ngày Đức Kitô đến lần thứ hai. Dưới
thế này, Thánh Thể là một bảo chứng và một cách nào đó, là
hưởng trước trời mới, đất mới “Veni, Domine Iesu!” (Kh
22,20).
Trong dấu chỉ khiêm hạ của bánh và rượu, được biến đổi thành
Mình và Máu, Đức Kitô đồng hành với chúng ta như một nguồn
sức mạnh và của ăn đàng, và Người biến chúng ta thành những
chứng nhân của niềm hy vọng cho anh chị em chúng ta. Đối diện
với mầu nhiệm này, nếu trí khôn cảm thấy những giới hạn, thì
trái lại, con tim, được ân sủng Chúa Thánh Thần soi sáng, biết
phải có thái độ nào, đó là đắm chìm trong sự tôn thờ và tình
yêu vô biên.
Chúng ta hãy xem là của mình những tâm tình sau đây của Thánh Tôma
Aquinô, một nhà thần học lỗi lạc và một thi sĩ say mê Đức
Kitô ngự trong Thánh Thể, và chúng ta mở rộng tâm hồn để chiêm
ngưỡng mục tiêu mà lòng trí chúng ta khát khao, ước mong đó là
niềm vui và bình an của chúng ta.
Bone pastor, panis vere,
Iesu, nostri miserere. ..< br> Lạy Chúa Giêsu,
là Mục tử nhân lành, là bánh thần linh,
xin tỏ lòng thương xót chúng con;
xin nuôi dưỡng, che chở chúng con;
xin cho chúng con thấy vinh quang của Ngài
chiếu toả trong đất những kẻ hằng sống. < br> Lạy
Chúa là Đấng thấu suốt và làm được mọi sự,
là lương thực cho chúng con ở đời này, là nơi an nghỉ cho chúng
con trong tương lai,
xin cho chúng con được đồng bàn và đồng thừa hưởng với các
thánh muôn đời. < br> Ban hành tại Đền thờ thánh Phêrô,
Rôma, ngày thứ Năm Tuần thánh, 17 tháng 4 năm 2003, năm thứ 25
triều đại Giáo hoàng của tôi, Năm Mân côi. < br> Gioan
Phaolô II
CHÚ THÍCH
1 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Hội Thánh Lumen
Gentium, 11.
2 Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh về Sứ vụ và đời
sống các Linh mục Presbyterorum Ordinis, 5.
3 X. Gioan Phaolô II, Tông thư Rosarium Virginis Mariae (16/10/2002),
21: AAS 95 (2003), 19.
4 Đó là đầu đề tôi đặt cho một chứng từ tự thuật nhân
kỷ niệm 15 năm chịu chức linh mục.
5 Lêô XIII P.M. Acta, XXII (1903), 115-136.
6 AAS 39 (1947), 521-595.
7 AAS 57 (1965), 753-774.
8 AAS 72 (1980), 113-148.
9 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium,
47: “... Đấng Cứu độ chúng ta đã thiết lập Hy tế Tạ ơn
bằng mình và máu Người, để nhờ đó hy tế Thánh giá kéo dài
qua các thời đại, cho tới khi Người lại đến”.
10 Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 1085.
11 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 3.
12 X. Phaolô VI, Tuyên xưng Đức tin long trọng, 30/6/1968, 24:
AAS 60 (1968), 442; Gioan Phaolô II, Tông thư Dominicae Cenae (24/2/1980),
12: AAS 72 (1980), 142.
13 Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 1382.
14 Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 1367.
15 In Epistolam ad Hebraeos Homiliae, Hom. 17,3: PG 63, 131.
16 X. Công đồng chung Trentô, Khoá XXII, Doctrina de ss. Missae
Sacrificio, Chương 2: DS 1743: “Đây chỉ là một tế vật duy
nhất và cùng một tế vật do Người dâng tiến nhờ sứ vụ của
các Linh mục, mà Người đã dâng hiến chính mình trên Thánh giá;
chỉ có cách dâng tiến là khác”.
17 Piô XII, Thông điệp Mediator Dei (20/11/ 1947): AAS 39 (1947),
548.
18 Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (15/3/1979), 20:
AAS 71 (1979), 310.
19 Hiến chế về Hội Thánh Lumen Gentium, 11.
20 De Sacramentis, V, 4, 26: CSEL 73, 70.
21 In Ioannis Evangelium, XII, 20: PG 74, 726.
22 Thông điệp Mysterium Fidei (3/9/ 1965): AAS 57 (1965), 764.
23 Khoá XIII, Decretum de ss. Eucharistia, Chương 4: DS 1642.
24 Mystagogical Catecheses, IV, 6: SCh 126, 138.
25 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Mạc khải Dei Verbum,
8.
26 Tuyên xưng Đức tin long trọng, 30/6/1968, 25: AAS 60 (1968),
442-443.
27 Sermo IV trong Hebdomadam Sanctam : CSCO 413/Syr. 182, 55.
28 Anaphora.
29 Kinh nguyện Thánh Thể III.
30 Lễ trọng Mình và Máu Đức Kitô, Kinh Chiều 2, Điệp ca Magnificat.
31 Missale Romanum, Lời kinh sau Kinh Lạy Cha.
32 Ad Ephesios, 20: PG 5, 661.
33 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Mục vụ Hiến chế về Hội Thánh
trong Thế giới ngày nay Gaudium et Spes, 39.
34 “Anh muốn tôn vinh Thân mình Đức Kitô phải không? Đừng
phớt lờ Người khi Người trần truồng. Đừng chỉ tôn kính Ngài
trong đền thờ được trang hoàng bằng nhung lụa, mà quên mất Người
đang lạnh lẽo và ăn mặc tồi tàn ở bên ngoài. Đấng đã nói:
‘Này là mình Thầy' cũng chính là Đấng đã nói: ‘Anh em thấy
Ta đói và đã cho Ta ăn', và 'điều gì anh em đã làm cho một người
anh em nhỏ bé nhất của Ta đây là làm cho chính Ta’... Tốt đẹp
gì khi bàn tiệc Thánh Thể đầy dẫy những chén vàng đang khi người
anh em của anh đang chết đói. Hãy khởi sự làm thoả mãn cơn đói
của người ấy và sau đó với cái gì còn lại hãy trang hoàng bàn
thờ” Thánh Gioan Chrysostom, In Evangelium S. Matthaei, hom. 50:3-4:
PG 58, 508-509; x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987),
31: AAS 80 (1988), 553-556.
35 Hiến chế Lumen Gentium, 3.
36 Ibid. < br>37 Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh
về Hoạt động truyền giáo của Hội Thánh Ad Gentes, 5.
38 “Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: ‘Đây là
máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời
này’” (Xh 24,8).
39 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 1.
40 X. ibid. , 9.
41 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh về Đời sống và Sứ
vụ các Linh mục Presbyterorum Ordinis, 5. Cùng một Sắc lệnh,
trong số 6, nói: “Không một Cộng đoàn Kitô hữu nào được
thiết lập mà không đặt nền tảng và trọng tâm vào việc cử hành
Phép Thánh Thể chí thánh”.
42 In Epistolam I ad Corinthios Homiliae, 24, 2: PG 61, 200; X. Didache,
IX, 4: F.X. Funk, I, 22; Saint Cyprian, Ep. LXIII, 13: PL 4, 384.
43 PO 26, 206.
44 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 1.
45 X. Công đồng chung Trentô, Khoá XIII, Decretum de ss. Eucharistia,
Điều 4: DS 1654.
46 X. Rituale Romanum: De sacra communione et de cultu mysterii eucharistici
extra Missam, 36 (số 80).
47 X. ibid. , 38-39 (số 86-90).
48 Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (6/1/2001), 32:
AAS 93 (2001), 288.
49 “Trong ngày các tín hữu đừng quên viếng Thánh Thể, mà theo
luật phụng vụ phải được đặt hết sức cung kính tại một nơi
xứng hợp trong nhà thờ. Việc viếng Thánh Thể này là một dấu
chỉ của lòng biết ơn, một diễn tả của tình yêu và một sự
nhìn nhận sự hiện diện của Chúa”: Phaolô VI, Thông điệp Mysterium
Fidei (3/9/1965): AAS 57 (1965), 771.
50 Visite al SS. Sacramento e a Maria Santissima, Dẫn nhập: Opere
Ascetiche, Avellino, 2000, 295.
51 Số 857.
52 Ibid. < br>53 Ibid. < br>54 X. Thánh Bộ Giáo lý
Đức tin, Thư Sacerdotium Ministeriale (6/8/1983), III.2: AAS 75
(1983), 1005.
55 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 10.
56 Ibid. < br>57 X. Institutio Generalis : Editio typica
tertia, số 147.
58 X. Hiến chế về Hội Thánh Lumen Gentium, 10 và 28; Sắc
lệnh về Sứ vụ và đời sống các Linh mục Presbyterorum Ordinis,
2.
59 “Thừa tác viên của bàn thờ hành động trong tư cách Đức
Kitô là Đầu, khi dâng lễ vật nhân danh mọi người tham dự”:
Piô XII, Thông điệp Mediator Dei (20/11/1947): AAS 39 (1947), 556;
x. Piô X, Tông huấn Haerent Animo (4/8/1908): Acta Pii X, IV,
16; Piô XI, Thông điệp Ad Catholici Sacerdotii (20/12/1935): AAS 28
(1936), 20.
60 Tông thư Dominicae Cenae (24/2/ 1980), 8: AAS 72 (1980), 128-129.
61 Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư Sacerdotium Ministeriale (6/8/1983),
III.4: AAS 75 (1983), 1006; x. Công đồng chung Latêranô IV, Chương 1,
Hiến chế về Đức tin Công giáo Firmiter Credimus : DS 802.
62 Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh về Đại kết Unitatis
Redintegratio, 22.
63 Tông thư Dominicae Cenae (24/2/ 1980), 2: AAS 72 (1980), 115.
64 Sắc lệnh về Đời sống và Sứ vụ các Linh mục Presbyterorum
Ordinis, 14.
65 Ibid. , 13; x. GiáoLuật, Điều 904; Giáo luật của
Giáo hội Đông Phương, Điều 378.
66 Sắc lệnh về Sứ vụ và đời sống các Linh mục Presbyterorum
Ordinis, 6.
67 X. Tường trình kết thúc, II.C.1: L'Osservatore Romano,
10/12/1985, 7.
68 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 26.
69 Nicolas Cabasilas, Sự sống trong Đức Kitô, IV, 10: SCh 355,
270.
70 Camino de Perfecciĩn, Chương 35.
71 X. Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gởi các Giám mục của Hội
Thánh Công giáo về một vài Khía cạnh của Hội Thánh được
hiểu như sự Hiệp thông Communionis Notio (28/5/ 1992), 4: AAS 85
(1993), 839-840.
72 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 14.
73 Homiliae in Isaiam, 6, 3: PG 56, 139.
74 Số 1385; x. Giáo Luật, Điều 916; Giáo luật của Giáo
hội Đông Phương, Điều 711.
75 Diễn văn gởi đến các Thành viên của Toà Ân giải của các Vương
cung Thánh Đường Rôma (30/1/1981): AAS 73 (1981), 203. X. Công đồng
chung Trentô, Khoá XIII, Decretum de ss. Eucharistia, Chương 7 và Điều
11: DS 1647, 1661.
76 Điều 915; Giáo luật của Giáo hội Đông Phương, Điều
712.
77 Hiến chế về Hội Thánh Lumen Gentium, 14.
78 Thánh Tôma Aquina, Summa Theologiae, III, q. 73, I. 3c.
79 Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi các Giám mục của Hội Thánh
Công giáo về vài Khía cạnh Hội Thánh được hiểu như sự Hiệp
thông Communionis Notio (28/5/ 1992), 11: AAS 85 (1993), 844.
80 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 23.
81 Ad Smyrnaeos, 8: PG 5, 713.
82 Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế về Hội Thánh Lumen
Gentium, 23.
83 Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi các Giám mục của Hội Thánh
Công giáo về vài Khía cạnh Hội Thánh được hiểu như sự Hiệp
thông Communionis Notio (28/5/ 1992), 14: AAS 85 (1993), 847.
84 Sermo 272: PL 38, 1247.
85 Ibid. , 1248.
86 X. Số 31-51: AAS 90 (1998), 731-746.
87 X. ibid. , Số 48-49: AAS 90 (1998), 744.
88 Số 36: AAS 93 (2001), 291-292.
89 X. Sắc lệnh về Đại kết Unitatis Redintegratio, 1.
90 X. Hiến chế về Hội Thánh Lumen Gentium, 11.
91 “Liên kết tất cả chúng ta, đang chia sẻ cùng một bánh và
một chén rượu, lại với nhau trong sự hiệp thông của cùng một
Chúa Thánh Thần”: Anaphora của Phụng vụ thánh Basiliô.
92 X. Giáo Luật, Điều 908; Giáo luật của Giáo hội Đông
Phương, Điều 702; Ủy ban Toà thánh cổ võ sự Hiệp nhất Kitô
hữu, Kim chỉ nam về Đại kết, 25/3/1993, 122-125, 129-131: AAS
85 (1993), 1086-1089; Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư Ad Exsequendam,
18/5/2001: AAS 93 (2001), 786.
93 “Luật Chúa cấm thông dự vào việc thờ phụng có phương
hại đến vấn đề hiệp nhất của Hội Thánh, hoặc đưa đến
sai lầm hoặc nguy cơ lạc hướng về đức tin, sinh ra gương mù gương
xấu, hoặc tạo nên thái dộ lãnh đạm”: Sắc lệnh về Giáo
hội Công giáo Đông Phương Orientalium Ecclesiarum, 26.
94 Số 45: AAS 87 (1995), 948.
95 Sắc lệnh về Giáo hội Công giáo Đông Phương Orientalium
Ecclesiarum, 27.
96 X. Giáo Luật, Điều 844 §§ 3-4; Giáo luật của Giáo
hội Đông Phương, Điều 671 §§ 3-4.
97 Số 46: AAS 87 (1995), 948.
98 X. Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh về Đại kếtUnitatis Redintegratio,
22.
99 Giáo Luật, Điều 844; Giáo luật của Giáo hội Đông Phương,
Điều 671.
100 X. AAS 91 (1999), 1155-1172.
101 Số 22: AAS 92 (2000), 485.
102 X. Số 21: AAS 95 (2003), 20.
103 Số 29: AAS 93 (2001), 285.
104 Thánh Tôma Aquina, Summa Theologiae, III, q. 83, I. 4c.
(Hết)
Theo Nguyễn
Phước, Nguyễn Ngọc Kính và Đặng Minh An
Vietcatholic
News