Phụng
vụ - Mục vụ
Thông điệp
Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu - Phần 1
THÔNG ĐIỆP THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐÍCTÔ XVI GỞI CÁC ĐỨC GIÁM MỤC, CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ, CÁC TU SĨ NAM NỮ VÀ TẤT CẢ CÁC TÍN HỮU VỀ ĐỨC ÁI KITÔ GIÁO
DẪN
NHẬP
1. "Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở
trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy"(1 Ga 4:16). Những
lời này trích từ thư Thứ Nhất của Thánh Gioan diễn tả
rất rõ ràng trọng tâm của đức tin Kitô: hình ảnh Thiên Chúa
theo Kitô Giáo, hình ảnh con người và con đường của họ rút ra
từ đó. Cũng trong thư này, Thánh Gioan cũng đưa ra một dạng
tổng kết về đời sống Kitô Giáo: "Chúng ta đã nhận biết
và tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta".
Chúng ta đã tin vào tình yêu Thiên Chúa: người Kitô hữu có
thể diễn tả quyết định căn bản của đời mình như thế. Là
Kitô hữu không phải là hệ quả của một lựa chọn luân lý hay
một lý tưởng cao quý, nhưng là sự gặp gỡ với một biến cố,
một người; một cuộc gặp gỡ trao ban cho cuộc sống một chân
trời mới và qua đó là một hướng đi có tính chất quyết định.
Phúc Âm Thánh Gioan mô tả biến cố này trong những từ sau:
"Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin
vào Con của Người thì... được sống muôn đời."(Ga 3:16).
Khi nhìn nhận vị thế trung tâm của tình yêu, đức tin Kitô giữ
lại phần nòng cốt của niềm tin Do Thái, đồng thời cho đức
tin này một chiều sâu và một chiều rộng mới. Những tín hữu
Do Thái Giáo nhiệt thành thường cầu nguyện hàng ngày với những
lời trong sách Đệ Nhị Luật diễn tả trọng tâm cuộc sống
của họ: "Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng
ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa
của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em." Chúa Giêsu đã
kết hiệp vào một giáo huấn duy nhất lề luật mến Chúa và yêu
người được tìm thấy trong sách Lê Vi "Ngươi phải yêu tha
nhân như chính mình"(Lv 19:18; x Mc 12:29-31). Vì Thiên Chúa
đã yêu thương chúng ta trước (x Ga 4:10), tình yêu giờ đây
không chỉ là một "giới răn"; nhưng là lời đáp trả cho
hồng ân tình yêu qua đó Thiên Chúa gần gũi với chúng ta.
Trong một thế giới nơi danh thánh Thiên Chúa đôi khi lại được
gán ghép với sự báo thù hay ngay cả nghĩa vụ phải căm ghét và
bạo lực, điều nói trên vừa hợp thời vừa cụ thể. Vì thế,
trong thông điệp đầu tiên của mình, tôi muốn đề cập đến tình
yêu Thiên Chúa trao ban hào phóng trên chúng ta và đến lượt chúng
ta phải thông truyền cho người khác. Về cơ bản, đó là điều mà
hai phần chính của Thông Điệp này đề cập đến, và chúng liên
hệ hỗ tương với nhau cách sâu xa. Phần đầu tiên có tính chất
lý thuyết nhiều hơn vì tôi muốn lúc này đây – buổi đầu
triều đại Giáo Hoàng của mình – xác định rõ một số dữ
kiện thiết yếu liên quan đến tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho
nhân loại cách huyền nhiệm và nhưng không, cùng với mối liên
hệ nội tại giữa Tình Yêu đó và thực tại của tình yêu nhân
loại. Phần thứ hai có tính chất cụ thể hơn vì nó bàn đến đến
việc thực hành giới răn yêu thương tha nhân của Giáo Hội. Lý
lẽ dẫn đến những hệ quả rộng lớn, nhưng một sự bàn cãi dài
dòng sẽ đi quá phạm vi của Thông Điệp này. Tôi chỉ muốn
nhấn mạnh đến một số yếu tố căn bản để khơi dậy trong
thế giới một năng động mới mẻ cho sự dấn thân của con người
đáp trả lại tình yêu Thiên Chúa.
PHẦN I
TÍNH ĐƠN NHẤT CỦA TÌNH YÊU TRONG TẠO VẬT VÀ
TRONG LỊCH SỬ CỨU CHUỘC
Một vấn nạn ngôn ngữ
2. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta là một vấn đề căn bản
đối với cuộc sống và đặt ra những câu hỏi quan trọng: Thiên
Chúa là ai và chúng ta là ai. Khi suy tư về điều này, chúng ta
lập tức thấy mình bị ngăn trở bởi một vấn nạn ngôn ngữ.
Ngày nay, thuật ngữ "tình yêu" đã trở thành một trong
những từ được dùng cũng như bị lạm dụng thường xuyên
nhất, một từ chúng ta gán cho nhiều ý nghĩa khác nhau. Dù Thông
Điệp này sẽ bàn chủ yếu về nhận thức và thực hành của tình
yêu trong Thánh Kinh và trong Truyền Thống của Giáo Hội, chúng ta
không thể đơn giản bỏ qua không nói đến ý nghĩa của từ này
trong các nền văn hóa khác nhau và trong ngôn ngữ thường dùng
hiện nay.
Trước hết, chúng ta hãy bàn về phạm vi ngữ học rộng lớn
của từ "tình yêu": chúng ta nói về lòng yêu nước, yêu
nghề, tình yêu bè bạn, sự yêu thích công việc, tình yêu giữa
cha mẹ và con cái, tình yêu giữa các thành viên trong gia đình, tình
yêu người và lòng mến Chúa. Tuy nhiên, giữa cơ man những ngữ
nghĩa này, có một điều nổi bật lên: đó là tình yêu giữa
một người nam và một người nữ, trong đó xác hồn được kết
hiệp bất phân ly và mở ra cho nhân loại thấy thấp thoáng lời
hứa hạnh phúc dường như không cưỡng lại được. Tình yêu này
có lẽ là kiểu mẫu của tình yêu; tất cả các dạng thức yêu
thương khác tức khắc tỏ ra mờ nhạt khi so sánh với thứ tình yêu
này. Vì thế, một vấn đề được nêu lên: có phải tất cả
những dạng thức của tình yêu về cơ bản chỉ là một, cho nên
tình yêu, trong những biểu thị đa dạng của nó, tối hậu chỉ là
một thực tại duy nhất; hay đơn giản là chúng ta dùng một từ
để chỉ định nhiều thực tại hoàn toàn khác biệt?
“Eros” ("Tình ái") và “Agape” ("tình bác ái")
– sự khác biệt và đồng nhất
3. Tình yêu giữa một người nam và một người nữ, thứ tình không
bị an bài trước và cũng chẳng bị bắt buộc, nhưng cách nào đó
tự xảy đến trên con người, được gọi là eros (tình ái)
trong tiếng Hy Lạp cổ. Chúng ta ghi nhận tức khắc nơi đây rằng
Bản Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp nhắc đến từ eros chỉ
hai lần, trong khi bản Tân Ước không hề dùng đến từ này: trong
ba từ Hy Lạp nói về tình yêu là eros, philia (tình
bằng hữu) và agape (tình bác ái), các tác giả Tân Ước thích
dùng từ sau cùng hơn, là từ ít được dùng trong tiếng Hy Lạp.
Từ philia, tình bằng hữu, được dùng với ý nghĩa sâu xa hơn
trong Tin Mừng của Thánh Gioan để diễn tả quan hệ giữa Chúa Giêsu
và các môn đệ Ngài. Khuynh hướng tránh dùng từ eros, cùng
với viễn ảnh của tình yêu được diễn tả qua từ agape,
chắc chắn nói lên ra một điều gì đó mới mẻ và phân biệt
trong nhận thức Kitô Giáo về tình yêu. Trong trào lưu chỉ trích
Kitô Giáo, bắt đầu từ thời Triết Học Ánh Sáng và càng ngày càng
quá khích, quan niệm của Kitô Giáo về tình yêu thường được
xem là điều gì đó rất tiêu cực. Theo Friedrich Nietzsche, Kitô Giáo
đã đầu độc từ eros, và về phần mình, trong khi không hoàn
toàn từ bỏ từ này đã dần dà đưa nó xuống hàng thứ yếu.
[1] Ở đây, triết gia Đức mô tả một quan niệm rất phổ biến:
chẳng phải là Giáo Hội, với tất cả những lề luật và cấm
đoán của mình, đang biến thứ quý nhất trong cuộc đời thành ra
một điều cay đắng đó sao? Chẳng phải Giáo Hội đang thổi còi
chặn lại khi niềm hoan lạc, một hồng ân do Tạo Hóa trù định,
đang mang đến cho chúng ta một niềm hạnh phúc như một nếm thử
nhất định về Thiên Chúa đó sao?
4. Nhưng có đúng thế không? Có thực Kitô Giáo đã hủy diệt từ
eros? Chúng ta hãy hướng một cái nhìn về thế giới thời
tiền Kitô Giáo. Văn hóa Hy Lạp – không khác gì những nền văn hóa
khác – xem eros chủ yếu như một trạng thái say đắm, một
tình trạng lý trí bị đè bẹp bởi một thứ "điên dại
thần bí" lôi kéo con người khỏi cuộc sống hạn hẹp phàm
nhân của mình và cho phép con người, trong chính tiến trình bị
say đắm bởi lực thần bí ấy, hưởng được một niềm hạnh phúc
cao độ. Tất cả những quyền lực khác trên trời dưới đất đều
tỏ ra là thứ yếu “Omnia vincit amor” (Tình yêu chinh phục
mọi thứ) Người Trinh Nữ đã nói thế trong vở Bucolics –
và chàng đáp lại “et nos cedamus amori ” – (cả chúng ta cũng
hãy chịu khuất phục tình yêu). [2] Trong các tôn giáo, thái độ này
tìm được thấy trong các giáo phái tôn thờ khả năng sinh sản,
chẳng hạn như tục mại dâm "linh thiêng" nở rộ trong
nhiều đền thờ. Eros, vì thế, được thờ như một thứ
quyền năng thiêng liêng, đồng hàng với Thiên Chúa.
Cựu Ước mạnh mẽ chống lại thứ hình thái tôn giáo này, coi đó
là tiêu biểu cho một cám dỗ mạnh mẽ chống lại đức tin độc
thần, và chiến đấu chống lại nó như một hình thái sa đọa
của tôn giáo. Tuy nhiên, Cựu Ước đã không hề loại bỏ eros
đúng nghĩa; nhưng chỉ tuyên chiến đối với hình thái băng hoại
của nó vì sự thần thánh hóa giả tạo eros thực ra tước
đi mất thế giá của nó và khiến con người bị hạ giá. Thực
vậy, những gái điếm trong các đền thờ, những người phải cúi
đầu trước trạng thái say sưa thần bí này đã không được đối
xử như con người và như những cá nhân, nhưng đơn giản được
dùng như một phương tiện khơi dậy "cơn điên thần bí":
chẳng những không hề được coi là những nữ thần, họ là
những con người trần tục bị lợi dụng. Thứ tình ái mất lý
trí và bừa bãi không là một sự thăng hoa "xuất thần" hướng
về Thiên Chúa, nhưng là một sự sa ngã, một bước thụt lùi
của con người. Hiển nhiên. eros cần được uốn nắn và
thanh luyện nếu nó muốn đem đến không chỉ niềm hoan lạc chóng
qua, mà cả một nếm thử trước cho tột đỉnh cuộc sống chúng
ta, của phúc thật mà toàn thể loài người trông đợi.
5. Có hai khía cạnh xuất hiện thật rõ rệt từ tổng kết chớp
nhoáng về khái niệm eros xưa và nay này. Trước hết, có liên
hệ nhất định giữa tình yêu và Thiên Chúa: tình yêu hứa hẹn
sự vô biên, vĩnh hằng – một thực tại xa hơn và khác biệt hoàn
toàn với cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng
thấy rằng con đường đạt đến mục tiêu này không phải chỉ
đơn thuần là tùng phục theo bản năng. Sự thanh luyện và thăng
tiến trong sự trưởng thành là cần thiết; và những điều này cũng
phải trải qua con đường từ bỏ mình. Không những không từ khước
hay "đầu độc" eros, những điều này chữa lành nó
và khôi phục lại sự cao cả đích thực của nó.
Điều này trước hết và trên hết là do bởi sự kiện con người
được tạo dựng cả xác lẫn hồn. Con người thật sự là chính
mình khi xác hồn được kết hiệp mật thiết; thách đố của eros
có thể nói là thực sự được vượt qua khi sự kết hiệp này
được đạt đến. Nếu một người chỉ mong được thanh thoát
tinh thần và khước từ thể xác coi thân xác mình như gia sản
của một động vật mà thôi, thì khi đó cả hồn lẫn xác đều
đánh mất đi vị thế của chúng. Ngược lại, nếu người ấy
từ khước phần hồn và coi trọng phần xác như thực tại duy
nhất, người ấy cũng đánh mất đi sự cao trọng của mình.
Triết gia theo chủ nghĩa hưởng lạc Gassendi thường chào Descartes
với lời chào hóm hỉnh: "Hồn Ơi!" và Descartes thường đáp
lại "Xác Ơi!". [3] Khi yêu không chỉ có hồn yêu hay xác yêu
mà thôi, song chính là con người, một nhân vị, một tạo vật
hiệp nhất gồm cả thể xác và linh hồn. Chỉ khi nào cả hai
chiều kích thật sự được kết hiệp, lúc đó con người mới đạt
đến tầm vóc đúng mức của mình. Chỉ khi đó tình yêu – eros
– mới có thể trưởng thành và đạt đến sự cao cả đích
thật của nó.
Ngày nay, Kitô Giáo trong quá khứ thường bị chỉ trích là đối
nghịch với thân xác; và cũng đúng là những khuynh hướng như
thế đã từng xảy ra. Tuy nhiên, cái lối tôn sùng thân xác thời
nay là lầm lạc. Eros, bị giản lược thành "tính
dục" thuần tuý, đã trở nên một thứ hàng hóa, đơn giản là
"đồ vật" mua bán, hay hơn thế nữa chính con người trở
thành một thứ hàng hóa. Điều này khó mà là một sự đề cao
của con người đối với thân xác. Trái lại, từ nay con người
xem thân xác mình và tính dục của mình thuần tuý là phần chất
thể của chính mình, được dùng và bị lợi dụng tùy ý. Con người
cũng không coi thân xác là một nơi để thực thi quyền tự do
của mình, nhưng chỉ như một thứ để cố làm cho thoải mái và
vô hại. Ở đây, chúng ta thực sự phải đương đầu với sự
hạ giá thân xác con người: thân xác không còn được hội nhập
vào sự tự do hiện sinh tổng thể của chúng ta; cũng không còn là
biểu hiệu sinh động của toàn thể con người chúng ta nữa, nhưng
hầu như bị đóng khung hoàn toàn trong lãnh vực thuần tuý sinh lý.
Thái độ có vẻ suy tôn thân xác như thế có thể nhanh chóng
biến thành sự thù nghịch đối với thể xác. Niềm tin Kitô, ngược
lại, luôn xem con người là một thể thống nhất gồm hai phần,
một thực tại trong đó tinh thần và thể chất kết hiệp lại, và
trong đó cả hồn lẫn xác được nâng lên một thế giá mới. Eros
chân chính có khuynh hướng đưa con người hướng đến Thiên Chúa
"trong sự ngất trí", dẫn đưa chúng ta vượt qua chính mình;
tuy nhiên chính vì lý do này, nó đòi hỏi con đường hướng thượng,
từ bỏ, thanh luyện và chữa lành.
6. Một cách cụ thể, con đường hướng thượng và thanh luyện này
đưa ta đến đâu? Tình yêu phải được cảm nhận thế nào để
có thể hoàn toàn nhận ra hứa hẹn trần tục và thiêng liêng
của nó? Ở đây, chúng ta có thể tìm ra một chỉ dẫn đầu tiên
và quan trọng trong Sách Diễm Ca, một sách trong Cựu Ước rất
quen thuộc với những nhà thần bí. Theo cách hiểu của nhiều người,
những bài thơ trong sách này thoạt đầu là những bài tình ca, có
lẽ dành cho một lễ cưới Do Thái và có dụng ý ca ngợi tình yêu
hôn nhân. Trong bối cảnh này, điều đáng ghi nhận là trong suốt
cuốn sách, có hai từ Hêbrơ đã được dùng để nói về "tình
yêu". Trước tiên là từ dodim, một dạng số nhiều nói
lên một tình yêu không chắc chắn, chưa quyết định dứt khoát và
còn đang kiếm tìm. Từ này rồi ra được thay bằng từ ahab,
mà bản dịch Cựu Ước sang tiếng Hy Lạp chuyển sang thành một
từ đồng âm agape, mà như chúng ta thấy, trở nên thành
ngữ tiêu biểu cho ý niệm tình yêu trong Thánh Kinh. Tương phản
với một tình yêu chưa quyết, "đang tìm kiếm", từ này
diễn tả cảm nhận của một tình yêu trong đó có sự khám phá
đích thực lẫn nhau, vượt qua tính chất ích kỷ bao trùm trước
đó. Tình yêu giờ đây trở thành mối quan tâm và lo lắng cho người
khác. Nó không còn là tìm kiếm chính mình, hay một mê say hạnh phúc;
thay vào đó nó tìm kiếm điều thiện cho người mình yêu: nó
trở thành sự từ bỏ chính mình và sẵn sàng chấp nhận cả hy
sinh nếu cần.
Đó là một phần trong sự vươn lên đến những cấp độ cao hơn
của tình yêu, và trong sự thanh luyện bên trong mà tình yêu giờ
đây đang tìm kiếm hầu trở nên một chọn lựa dứt khoát, trong
một ý thức gồm hai mặt: cả tính độc quyền (chỉ một người
cụ thể mà thôi) lẫn sự "vĩnh viễn". Tình yêu bao gồm
toàn bộ hiện thực của cuộc sống trong mỗi chiều kích của nó,
kể cả thời gian. Khó mà khác đi được, vì hứa hẹn của tình
yêu hướng đến một mục tiêu chung cuộc: tình yêu nhắm đến
sự vĩnh viễn. Tình yêu thật sự là "một trạng thái ngây
ngất", không phải trong ý nghĩa của một thoáng mê say, nhưng
hơn thế nó như là một cuộc hành trình, một cuộc xuất hành ra
khỏi cái tôi đóng kín hướng vào bên trong để vươn tới sự
tự do qua việc cho đi chính mình, và như thế hướng đến sự khám
phá đích thật chính mình và chung cuộc là sự khám phá về Thiên
Chúa: "Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai
liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng
sống"(Lc 17:33), như Chúa Giêsu đã nói trong suốt các sách
Tin Mừng (x. Mt 10:39; 16:25; Mc 8:35; Lc 9:24; Ga 12:25). Trong
những lời này, Chúa Giêsu vẽ ra con đường của chính Ngài, qua
Thập Giá dẫn đến Phục Sinh: con đường của hạt lúa rơi
xuống đất và chết đi, để sinh nhiều hoa trái. Bắt đầu từ
những chiều kích thâm sâu trong lễ hy sinh của Ngài và trong tình
yêu đạt đến mức viên mãn sau đó, Ngài vẽ ra cho chúng ta thấy
qua những lời này đâu là yếu tính của tình yêu và thực sự đâu
là yếu tính của chính cuộc sống.
7. Luận lý nội tại của những suy tư sơ khởi có chút triết lý
về yếu tính của tình yêu này dẫn đưa chúng ta đến trước
thềm của niềm tin trong Thánh Kinh. Chúng ta bắt đầu đưa ra câu
hỏi liệu rằng những ý nghĩa khác biệt, đôi khi ngay cả trái ngược
với nhau, của từ "tình yêu" có nói lên điều gì đồng
nhất sâu xa bên dưới, hay trái lại chúng mãi mãi không liên quan
với nhau, và tồn tại song song với nhau. Đáng kể hơn, chúng ta đặt
vấn đề không biết sứ điệp tình yêu mà Thánh Kinh và Truyền
Thống Giáo Hội công bố cho chúng ta có những điểm nào chung
với cảm nhận tình yêu thông thường của nhân loại, hay nó đối
nghịch với cảm nhận này. Điều này lại đưa chúng ta đến sự
xem xét hai từ nền tảng: eros, như là thuật ngữ để chỉ
tình yêu "trần thế" và agape, chỉ tình yêu được
đặt cơ sở và hình thành bởi đức tin. Hai ý niệm này thường
được tương phản như tình yêu "nhận về" và tình yêu
"cho đi". Có những cách phân loại khác tương tự như
vậy, chẳng hạn như sự phân biệt giữa tình yêu chiếm hữu và
tình yêu vị tha (amor concupiscentiae – amor benevolentiae), đôi
khi người ta cũng thêm vào trong cách phân loại này thứ tình yêu
lợi dụng.
Trong bàn thảo triết học và thần học, những phân biệt này thường
được đẩy xa đến độ hình thành nên một số đối nghịch rõ
rệt giữa chúng: tình yêu cho đi hay vị tha - agape là kiểu tình
yêu Kitô Giáo, trong khi tình yêu nhận về, chiếm hữu hay ham muốn
là thứ tình không Kitô Giáo, và đặc biệt là tình yêu trong văn
hóa Hy Lạp. Nếu đối nghịch này đi đến mức cực đoan, tinh
thần Kitô Giáo sẽ bị bứng khỏi những liên hệ thiết yếu
với hiện thực căn bản của loài người, và sẽ trở nên xa lìa
với thế giới, có thể là đáng ngưỡng mộ đấy, nhưng dứt khoát
tách ly khỏi cấu trúc phức hợp của cuộc sống con người. Tuy
nhiên, eros và agape - tình yêu nhận về và cho đi – không
bao giờ có thể hoàn toàn tách rời. Hai thứ tình này, trong những
khía cạnh khác nhau của chúng, càng tìm được sự tương đồng
thích đáng trong cùng một thực tại tình yêu thì bản chất thực
sự của tình yêu càng thường được nhận ra rõ ràng. Dù cho eros
lúc đầu chủ yếu là ham muốn và đòi hỏi, trước quyến rũ
của hứa hẹn hạnh phúc được cận kề bên nhau, người ta càng
ngày càng bớt chú ý đến chính mình, gia tăng tìm kiếm hạnh phúc
cho người kia, lo lắng cho người yêu, cho đi chính mình và muốn
"hiện diện" cho người kia. Yếu tố agape vì thế bước
vào tình yêu, nếu không eros nghèo nàn và ngay cả đánh mất
đi bản chất của chính nó. Mặt khác, người ta không thể chỉ
sống bằng tình yêu vị tha, và cho đi. Ai muốn trao ra tình yêu thì
cũng muốn được nhận lại tình yêu như một quà tặng. Chắc
chắn, như Thiên Chúa nói với chúng ta, ta có thể trở thành
nguồn mạch tuôn chảy những dòng nước hằng sống (x Ga
7:37-38). Nhưng để trở nên một nguồn mạch như thế, ta phải
thường xuyên uống mãi từ nguồn nguyên thủy là Chúa Giêsu Kitô,
Đấng từ trái tim bị lưỡi đòng đâm thấu của Ngài tuôn đổ
tình yêu của Thiên Chúa (x Ga 19:34).
Trong trình thuật cây thang của Tổ Phụ Giacóp, các Nghị Phụ
của Giáo Hội thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa tình
yêu nhận về và tình yêu cho đi, giữa eros tìm kiếm Thiên
Chúa và agape trao đi hồng ân nhận được, biểu trưng bằng
nhiều cách khác nhau. Trong đoạn Thánh Kinh này, chúng ta đọc được
Tổ Phụ Giacóp thấy như thế nào trong một giấc mơ: trên tảng
đá dùng làm chỗ gối đầu của ngài, có một cái thang bắc lên
trời, trên đó các thiên thần đang lên xuống (x. St 28:12; Ga 1:51).
Một lối diễn dịch đánh động đặc biệt về thị kiến này
được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả đưa ra trong thông điệp
Pastoral Rule (Quy tắc Mục Vụ). Ngài nói với chúng ta rằng người
mục tử tốt lành phải đâm rễ trong chiêm niệm. Chỉ bằng cách
đó, người mục tử mới có thể đặt lên vai mình những nhu
cầu của tha nhân và coi đó là nhu cầu của mình: “per pietatis
viscera in se infirmitatem caeterorum transferat ” .[ 4 ] Thánh Giáo Hoàng
Grêgôriô nói trong bối cảnh của Thánh Phaolô, người đã được
nhấc lên cao với những mầu nhiệm cao cả nhất của Thiên Chúa,
và từ đó, khi hạ xuống, ngài đã có thể trở nên tất cả cho
mọi người (x. 2 Cor 12:2-4; 1 Cor 9:22). Ngài cũng chỉ ra gương
của ông Môisê, người đã vào lều Tạm và cũng ở lại trong
cuộc đối thoại với Thiên Chúa để khi ra khỏi lều Tạm ông đã
có thể phục phụ dân mình. "Trong [lều Tạm] ông đã được
nhấc lên cao nhờ chiêm niệm, để khi ra ngoài ông hoàn toàn dâng
mình cho việc trợ giúp những ai đau khổ: intus in contemplationem
rapitur, foris infirmantium negotiis urgetur. ”[ 5 ]
8. Như thế chúng ta đã đi đến một đáp giải sơ khởi, dù còn
đại cương, cho hai câu hỏi nêu ra ở trên. Về căn bản, "tình
yêu" là một thực tại duy nhất nhưng với nhiều chiều kích
khác nhau; ở những thời điểm khác nhau, chiều kích này có thể
xuất hiện rõ hơn chiều kích khác. Tuy nhiên khi hai chiều kích hoàn
toàn tách biệt khỏi nhau, hệ quả là một bức hí họa của tình
yêu hay ít nhất cũng là một dạng thức nghèo nàn của tình yêu.
Và chúng ta cũng đã thấy một cách tổng hợp, đức tin Thánh Kinh
không hề dựng nên một vũ trụ song song, hay chống lại một
hiện tượng thiết yếu của con người gọi là tình yêu, nhưng trái
lại đức tin chấp nhận toàn thể con người; can thiệp vào cuộc
tìm kiếm tình yêu của con người hầu thanh luyện tình yêu và
mở ra những chiều kích mới cho tình yêu. Tính mới mẻ của đức
tin Thánh Kinh biểu lộ chủ yếu ở hai yếu tố đáng được nêu
bật: hình ảnh của Thiên Chúa và hình ảnh của con người.
Sự mới mẻ của đức tin Thánh Kinh
9. Trước hết, thế
giới của Thánh Kinh trình bày với chúng ta một hình ảnh mới
của Thiên Chúa. Trong các nền văn hóa chung quanh, hình ảnh của
Thiên Chúa và của các thần linh luôn mơ hồ và trái nghịch. Tuy
nhiên, theo đà phát triển của đức tin Thánh Kinh, nội dung của
kinh Shema, lời nguyện cơ bản đối với người Do Thái, đã trở
nên càng ngày càng rõ ràng và hùng hồn. " Nghe đây, hỡi Ít-ra-en!
ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất"(Đnl
6:4). Chỉ có một Chúa duy nhất, Đấng dựng nên trời đất,
Đấng do đó là chủ tể muôn loài. Có hai sự kiện hệ trọng liên
quan đến khẳng định này: tất cả các thần linh khác không
phải là Chúa, và vũ trụ trong đó chúng ta sống xuất phát tự nơi
Thiên Chúa và được Thiên Chúa tạo thành. Chắc chắn là ý niệm
tạo dựng có thể được tìm thấy đâu đó nữa, nhưng ở đây
ý niệm này trở nên tuyệt đối rõ rệt rằng không có chuyện
một thần linh giữa các thần linh, nhưng chỉ có một Thiên Chúa
thật duy nhất, Đấng là nguồn mạch của mọi loài thọ sinh; toàn
thể thế giới này hiện hữu bởi quyền năng của Lời sáng
tạo. Hệ quả là tạo vật của Ngài là điều rất thân thiết
với Ngài, vì nó được an bài và "dựng" nên bởi Ngài.
Yếu tố quan trọng thứ hai giờ đây lộ ra: Thiên Chúa này yêu thương
con người. Quyền thần mà Aristotle ở đỉnh cao của triết học
Hy Lạp tìm cách nắm bắt qua những suy tư thực ra là một đối tượng
khiến cho mọi người khao khát và yêu mến – và như đối tượng
của tình yêu, quyền thần này đảo lộn thế giới[6] – nhưng
tự bên trong quyền thần này không thiếu thứ gì và không hề yêu
ai: nó chỉ là đối tượng để cho người ta yêu. Ngược lại,
Thiên Chúa mà dân Israel tin thờ lại yêu với một tình yêu cá
vị. Tình yêu của Ngài, hơn thế nữa, là một tình yêu có chọn
lọc: giữa tất cả các dân nước, Ngài đã chọn Israel và yêu dân
này – nhưng Ngài làm thế với viễn ảnh chữa lành toàn thể nhân
loại. Thiên Chúa yêu và tình yêu Ngài chắc chắn có thể gọi là
eros nhưng tình yêu đó cũng hoàn toàn là agape. [7]
Các tiên tri, đặc biệt là tiên tri Hôsê và Êdêkien, đã mô tả
xúc cảm của Thiên Chúa dành cho dân Ngài với những hình ảnh khơi
gợi táo bạo. Quan hệ giữa Thiên Chúa với dân Israel được mô
tả với những liên tưởng về giao ước và hôn nhân; việc thờ
ngẫu tượng do đó được coi là ngoại tình và mại dâm. Ở đây
chúng ta thấy - như đã từng thấy - một tham chiếu đặc biệt đến
các giáo phái tôn thờ sinh sản và sự lạm dụng eros của
họ, nhưng cũng đồng thời thấy một mô tả về quan hệ trung tín
giữa Israel và Thiên Chúa. Lịch sử quan hệ ái tình giữa Thiên Chúa
và Israel, ở mức thâm sâu nhất, bao gồm trong sự kiện là Ngài
đã ban cho Israel Torah (Lề Luật), qua đó mở mắt cho dân
Israel thấy bản chất thật sự của con người, và chỉ cho dân Người
thấy con đường dẫn đến chủ nghĩa nhân bản đích thật. Quan
hệ này chứa đựng trong sự kiện là con người qua cuộc sống
trung tín với Thiên Chúa duy nhất, sẽ tự cảm nhận ra mình được
Thiên Chúa yêu thương, và khám phá ra những niềm vui trong sự
thật và trong sự công chính – đó là niềm vui nơi Thiên Chúa mà
rồi ra sẽ trở nên hạnh phúc thiết yếu của con người:
"Con còn ai chốn trời xanh? Bên Ngài thế sự thật tình chẳng
ham... Còn hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa"(Tv 73
[72]:25, 28).
10. Chúng ta đã thấy rằng eros của Thiên Chúa dành cho loài
người cũng hoàn toàn là agape. Điều này không chỉ vì tình
yêu này được trao ban một cách rất hào phóng, nhưng không, nhưng
còn vì đó là một tình yêu tha thứ. Trên tất cả, Hôsê chỉ cho
chúng ta thấy rằng chiều kích agape này của tình yêu Thiên
Chúa dành cho con người vượt xa khía cạnh hào phóng. Israel tiếp
tục "ngoại tình" và vi phạm giao ước; Thiên Chúa lẽ ra
phải phán xét và trừng phạt Israel. Chính trong điểm này Thiên Chúa
mạc khải với ta Thiên Chúa là Thiên Chúa, không phải con người:"Hỡi
Ép-ra-im, Ta từ chối ngươi sao nổi! Hỡi Ít-ra-en, Ta trao nộp ngươi
sao đành!... Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không
hành động theo cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Ép-ra-im nữa,
vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi,
Ta là Đấng Thánh"(Hos 11:8-9). Tình yêu nhiệt thành của
Chúa dành cho dân Người – cho nhân loại – đồng thời là một
tình yêu thứ tha. Tình yêu ấy lớn lao đến độ làm Thiên Chúa
quay ra đối nghịch lại với chính Ngài, tình yêu của Ngài
nghịch lại với công lý của Ngài. Ở đây, người Kitô Giáo có
thể thấy một tiên báo lờ mờ về mầu nhiệm Thánh Giá: tình yêu
Thiên Chúa dành cho con người cao cả đến mức Ngài đã hóa thành
con người để theo đuổi con người đến tận cái chết và qua đó
hòa giải công lý và tình yêu.
Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và
tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một
mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình
của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và là nguồn
mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này
- Logos, Đấng thượng trí – lại đồng thời là một người
biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. Eros
vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết
đến độ nên một với agape. Chúng ta có thể thấy việc
đưa sách Diễm Ca vào phạm vi Sách Thánh đã sớm được giải thích
bởi ý tưởng là những bài tình ca này chung cuộc diễn tả quan
hệ giữa Thiên Chúa và con người và quan hệ giữa con người
với Thiên Chúa. Vì thế, trong cả văn chương Kitô Giáo và Do Thái
Giáo, sách Diễm Ca đã trở thành nguồn mạch cho những kiến
thức và cảm nhận huyền nhiệm, trở thành một diễn tả yếu tính
của đức tin Thánh Kinh theo đó con người có thể thực sự tiến
vào sự hiệp thông với Thiên Chúa – khát vọng nguyên thủy của
con người. Nhưng sự hiệp thông này không chỉ đơn thuần là
một tổng hợp, một nhúng chìm trong biển cả không tên của
Thần Tính; đó là một sự hiệp nhất tạo ra tình yêu, một sự
hiệp nhất trong đó cả Thiên Chúa và con người giữ nguyên chính
mình nhưng lại trở nên một. Như Thánh Phaolô nói: "Ai kết
hiệp với Chúa thì trở nên cùng một thần trí với Ngài" (1
Cr 6:17).
11. Tính chất mới mẻ đầu tiên của đức tin Thánh Kinh, như chúng
ta thấy ở trên, bao gồm hình ảnh về Thiên Chúa. Tính chất mới
mẻ thứ hai, liên quan chặt chẽ với điều này, được tìm thấy
nơi hình ảnh con người. Trình thuật sáng thế trong Thánh Kinh đề
cập đến sự cô đơn của Adong, con người đầu tiên, và quyết
định của Thiên Chúa ban cho ông một trợ tá. Tất cả các tạo
vật khác, không tạo vật nào có thể trở thành người trợ tá mà
con người này cần, dù cho con người đã đặt tên cho tất cả
mọi súc vật hoang dã và chim muông và qua đó biến chúng hoàn toàn
trở nên một một phần đời sống của mình. Vì thế, Thiên Chúa
dựng nên người nữ từ xương sườn của người nam. Giờ đây
Adong tìm được người trợ tá mà ông cần: "Phen này, đây là
xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" (St 2:23). Ở
đây, ta có thể tìm thấy những ý tưởng tương tự có thể tìm
thấy, chẳng hạn, trong huyền thoại được Plato nhắc đến, theo
đó con người tự nguyên thủy là đóng kín, vì con người hoàn
chỉnh và tự mình đầy đủ. Nhưng con người bị thần Zeus tách
làm đôi để trừng phạt tội kiêu ngạo, vì thế từ nay con người
ngóng trông nửa còn lại của mình, gắng toàn bộ sức mình để
dành lấy nửa ấy hầu khôi phục lại sự toàn vẹn của mình.
[8] Trong khi trình thuật Thánh Kinh không đề cập đến sự trừng
phạt, có một ý tưởng bàng bạc rằng con người cách nào đó là
khiếm khuyết, theo bản năng tìm kiếm nơi người khác phần bổ
sung để con người nên trọn vẹn; có một ý tưởng theo đó chỉ
trong sự hiệp thông với người khác phái con người mới có thể
trở nên "hoàn chỉnh". Trình thuật Thánh Kinh từ đó kết
luận với một lời tiên tri của Adong: "Bởi thế, người đàn
ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương
một thịt." (St 2:24).
Có hai khía cạnh rất quan trọng của điều này. Đầu tiên, eros
cách nào đó đâm rễ trong chính bản chất con người: Adong là
một người tìm kiếm, người "đã bỏ mẹ và cha mình" để
tìm người nữ; phải có hai người cùng nhau mới tiêu biểu được
cho một nhân loại hoàn chỉnh và trở nên "cùng một xương
một thịt". Khía cạnh thứ hai cũng quan trọng không kém. Từ
quan điểm của lịch sử sáng thế, eros hướng dẫn con người
đến với hôn nhân, đến với một ràng buộc độc nhất và dứt
khoát; chỉ như thế mục đích sâu xa nhất của nó mới được nên
trọn. Tương ứng với hình ảnh của một Thiên Chúa độc thần là
một hôn nhân đơn hôn [một vợ một chồng]. Hôn nhân dựa trên tình
yêu độc quyền và dứt khoát trở nên hình ảnh mối quan hệ
giữa Thiên Chúa với dân Người và ngược lại. Đường lối yêu
thương của Thiên Chúa trở thành thước đo cho tình yêu nhân
loại. Sự liên hệ gần gũi này giữa eros và hôn nhân trong
Thánh Kinh trong thực tế không có một tương đương nào trong các
văn chương khác.
Chúa Giêsu Kitô – hiện thân của tình yêu Thiên Chúa
12. Dù đến nay, chúng ta đề cập chủ yếu đến Cựu Ước, tuy
nhiên, sự kết hiệp bổ sung sâu xa giữa hai Giao Ước như một Thánh
Kinh duy nhất của đức tin Kitô đã trở nên hiển nhiên. Tính
chất mới mẻ thật sự của Tân Ước không hệ tại nhiều ở
những ý tưởng mới cho bằng trong chính hình ảnh của Chúa Kitô,
Đấng trao ban mình và máu Ngài cho những ý tưởng đó – một
chủ nghĩa hiện thực chưa từng có. Trong Cựu Ước, tính chất
mới mẻ của Thánh Kinh không chỉ ở những khái niệm trừu tượng
nhưng còn ở hành động không tiên liệu trước được của Thiên
Chúa và trong một nghĩa nào đó là chưa từng có. Hành động của
Thiên Chúa giờ đây mang lấy một hình thái gây ấn tượng mạnh
hơn nữa khi trong Chúa Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa là Đấng đi tìm
"những con chiên lạc", là nhân loại khổ đau và lầm
lạc. Khi Chúa Giêsu nói trong các dụ ngôn của Ngài về người
mục tử đi tìm chiên lạc, về người đàn bà tìm đồng tiền đánh
rơi, hay về người cha gặp gỡ và ôm vào lòng đứa con hoang đàng,
những lời này không chỉ đơn thuần như thế: chúng cấu thành
lời giải thích cho chính Ngài và hành động của Ngài. Cái chết
của Ngài trên thánh giá là tột đỉnh của việc Thiên Chúa quay
ra đối nghịch lại với chính Ngài, trong đó, Ngài trao ban chính mình
để nâng con người dậy và cứu rỗi con người. Đây là tình yêu
ở dạng thức cao nhất. Khi chiêm niệm cạnh sườn bị lưỡi đòng
đâm thấu của Chúa Kitô (x 19:37) , chúng ta có thể hiểu
được điểm khởi hành của Thông Điệp này "Thiên Chúa là tình
yêu" (1 Ga 4:8). Chính đó là điểm để chiêm niệm chân
lý này. Định nghĩa tình yêu của chúng ta cần phải bắt đầu
từ đó. Trong chiêm niệm này, người Kitô hữu khám phá ra con đường
theo đó cuộc sống và tình yêu của mình phải dõi bước theo.
13. Chúa Giêsu làm cho hành vi trao đi này tồn tại lâu dài qua
việc thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly. Ngài tiên báo
cái chết và sự phục sinh của Ngài bằng cách trao cho các môn đệ
chính Ngài trong hình bánh và rượu, là mình và máu Ngài như manna
mới ( x Ga 6:31-33). Thế giới xưa đã lờ mờ nhận ra rằng
của ăn đích thực của nhân loại – cái thực sự nuôi dưỡng
họ như con người – trên hết là Logos, thượng trí vĩnh
hằng: chính Logos này nay thực sự là của ăn cho họ - vì tình
yêu. Bí tích Thánh Thể đưa chúng ta vào trong hành động tự cho
đi của Chúa Giêsu. Hình ảnh cuộc hôn nhân giữa Thiên Chúa và
Israel giờ đây được nhận ra trong cách thế chưa từng được
nghĩ đến: hôn nhân này trước đây được hiểu là được hiện
diện trước mặt Thiên Chúa, nhưng nay nó trở thành sự hiệp
nhất với Thiên Chúa qua việc chia sẻ trong hồng ân tự hiến
của Chúa Giêsu, chia sẻ mình và máu Ngài. "Huyền nhiệm"
có tính cách bí tích này đặt cơ sở trên sự hạ mình của Thiên
Chúa xuống chúng ta, hoạt động ở mức độ rất khác biệt và
đưa chúng ta đến những đỉnh cao hơn bất cứ điều gì phù phép
nâng mình lên của nhân loại có thể đạt đến.
14. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cần quan tâm đến một khía cạnh
khác: "huyền nhiệm" bí tích này có một tính cách xã
hội, vì trong bí tích hiệp thông tôi trở nên một với Chúa, như
tất cả những người hiệp thông khác. Như Thánh Phaolô nói,
"Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ
cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là
một thân thể." (1 Cor 10:17) Hiệp thông với Chúa Kitô cũng
là hiệp thông với tất cả những ai Ngài đã hiến mình cho họ.
Tôi không thể giữ Chúa Kitô chỉ cho riêng mình; tôi chỉ có thể
thuộc về Ngài trong sự hiệp thông với những ai đã và sẽ trở
thành của Ngài. Sự hiệp thông đưa tôi ra khỏi chính mình để hướng
về Ngài, và vì thế cũng hướng về sự hiệp nhất với tất
cả các Kitô hữu. Chúng ta trở nên "một thân thể", hoàn
toàn được liên kết trong một sự hiện hữu duy nhất. Tình yêu
của Thiên Chúa, và tình yêu tha nhân giờ đây thực sự được
kết hiệp: Thiên Chúa nhập thể đưa tất cả chúng ta lại với
chính Ngài. Vì thế, chúng ta hiểu được tại sao agape cũng
trở nên một thuật ngữ dành cho bí tích Thánh Thể: nơi đó agape
của chính Thiên Chúa đến với chúng ta bằng xương bằng thịt để
tiếp tục kỳ công của Ngài trong chúng ta và qua chúng ta. Chỉ khi
nào chúng ta ghi nhớ trong đầu mình căn bản Kitô học và bí tích
học này chúng ta mới có thể hiểu đúng được giáo huấn của
Chúa Giêsu về tình yêu. Sự chuyển dịch Ngài đã thực hiện từ
Lề Luật và từ các Tiên Tri đến giới răn gồm hai mặt là mến
Chúa và yêu người, và việc đặt cơ sở của toàn bộ đời
sống đức tin trên giáo huấn trung tâm này không chỉ đơn giản là
vấn đề luân lý – một điều gì đó có thể tồn tại tách
biệt và song song với đức tin nơi Chúa Kitô và sự tái hiện
thực hóa cách bí tích (sacramental re-actualization) của đức tin này.
Đức tin, sự thờ phượng và eros đan quyện vào nhau như
một thực tại duy nhất hình thành trong cuộc gặp gỡ giữa chúng
ta với agape của Thiên Chúa. Ở đây sự đối kháng thông thường
giữa thờ phượng và đạo đức vỡ vụn từng mảng. "Sự
thờ phượng", sự hiệp thông trong bí tích Thánh Thể, tự nó
bao gồm thực tại của cả tình trạng được yêu và yêu thương
ngược lại. Sự hiệp thông Thánh Thể nếu không được nối
tiếp bằng sự thực hành yêu thương cụ thể thì tự bên trong đã
là chắp vá. Ngược lại, như chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết dưới
đây, "lề luật" yêu thương chỉ có thể thực hiện được
vì nó cao hơn là một yêu cầu. Tình yêu chỉ có thể bị "bó
buộc" nếu nó đã được trao ra trước.
15. Nguyên tắc này là điểm khởi hành để hiểu những dụ ngôn
lớn của Chúa Giêsu. Người nhà giàu (x Lc 16:19-31) van xin
từ chốn ngục hình của mình để anh em ông được biết về
những gì xảy đến cho những ai bỏ mặc người nghèo trong cùng bách.
Chúa Giêsu xem lời kêu cầu này như một lời cảnh cáo để giúp
chúng ta quay về chính lộ. Dụ ngôn người Samaritanô Nhân Lành (x
Lc 10:25-37) đưa ra hai điều minh bạch hóa hết sức quan trọng.
Cho đến lúc đó, khái niệm "anh em" được hiểu là ám
chỉ đặc biệt đến những người đồng hương và những khách
ngoại kiều cư trú trên đất Israel; nói cách khác, đến một
cộng đoàn khép kín của một đất nước hay một dân tộc chuyên
biệt. Giới hạn này giờ đây bị hủy bỏ. Bất cứ ai cần đến
tôi và bất cứ ai tôi có thể giúp đều là anh em tôi. Khái niệm
"anh em" giờ đây được hoàn vũ hóa, tuy thế nó vẫn
giữ nguyên tính cụ thể. Dù được nới rộng ra tới toàn nhân
loại, nó không bị giản lược thành một biểu thị tình yêu khái
quát, trừu tượng và không đòi hỏi, nhưng là những lời mời
gọi cho dấn thân thực tiễn của tôi ở đây và ngay bây giờ. Giáo
Hội có nghĩa vụ diễn dịch luôn mới mẻ quan hệ này trong mối
tương quan với đời sống của các tín hữu ở mọi nơi mọi lúc.
Cuối cùng, chúng ta phải đặc biệt nhắc đến dụ ngôn Ngày Phán
Xét Sau Cùng ( Mt 25:31-46), trong đó tình yêu trở thành tiêu
chuẩn cho quyết định chung cuộc xem cuộc sống của một con người
là xứng đáng hay không. Chúa Giêsu đồng hóa mình với những người
cùng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những kẻ
trần truồng, đau yếu và những người đang trong vòng lao lý.
"Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé
nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta
vậy" (Mt 25:40) Mến Chúa và yêu người đã trở thành
một: trong những người anh em bé nhỏ nhất, chúng ta tìm thấy chính
Chúa Giêsu, và trong Chúa Giêsu chúng ta gặp được Thiên Chúa.
Mến Chúa và yêu người
16. Sau khi đã suy tư về bản chất của tình yêu, và ý nghĩa của
nó trong niềm tin Thánh Kinh, chúng ta còn hai câu hỏi liên quan đến
thái độ của chính mình: chúng ta có thể yêu Chúa mà không thấy
Ngài không? Và tình yêu có thể bị bắt buộc không? Đối kháng
với giới răn kép của yêu thương, những câu hỏi này đưa ra
một chống đối kép. Chưa ai đã từng nhìn thấy Thiên Chúa, như
thế làm sao chúng ta có thể yêu Ngài? Hơn thế nữa, tình yêu không
thể bị bắt buộc; nói cho cùng đó là một cảm giác hoặc là có
hoặc là không, chẳng cố mà có, cũng chẳng muốn mà được. Thánh
Kinh xem ra có vẻ củng cố chống đối thứ nhất khi tuyên bố
rằng: "Nếu ai nói: 'Tôi yêu mến Thiên Chúa' mà lại ghét anh
em mình, người ấy là kẻ nói dối;vì ai không yêu thương người
anh em mà họ trông thấy,
thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy." (1
Ga 4:20). Nhưng đoạn văn này không loại trừ tình yêu Thiên Chúa
coi đó như là điều không thể được. Trái lại, toàn bộ bối
cảnh của đoạn văn trích từ Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan
cho thấy một tình yêu như thế là một đòi buộc rõ rệt. Mối
liên kết không thể bị bẻ gãy giữa mến Chúa và yêu người
được nhấn mạnh. Ta được liên kết thân mật với người khác
đến nỗi nói rằng yêu Chúa là nói dối nếu ta dóng kín với tha
nhân hay thậm chí thù ghét họ. Những lời của Thánh Gioan nên
được hiểu như thế này: yêu người là con đường dẫn đến
sự gặp gỡ với Chúa, và ngoảnh mặt với anh em là ngoảnh mặt
đi với Chúa.
17. Đúng thế, chưa ai đã từng thấy Thiên Chúa đúng nghĩa. Nhưng
tuy Thiên Chúa là vô hình đối với chúng ta; Ngài không phải là mãi
mãi không thể tiếp cận. Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước như
trong Thư của Thánh Gioan đã được trích dẫn ở trên (x
4:10) , và tình yêu này của Thiên Chúa đã xuất hiện giữa chúng
ta. Ngài đã trở nên hữu hình đến mức Ngài "đã sai Con
Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được
sống" (1 Ga 4:9). Thiên Chúa đã tự hóa thành hữu hình:
trong Chúa Giêsu chúng ta có thể thấy được Chúa Cha (x Ga 14:9).
Thật vậy, Thiên Chúa hữu hình trong nhiều cách thế. Trong câu
chuyện tình được Thánh Kinh tường thuật, Ngài đến với chúng
ta, Ngài tìm cách chinh phục con tim chúng ta, đến tận cùng bữa
Tiệc Ly, đến cạnh sườn bị lưỡi đòng thâu qua, đến những
lần hiện ra sau Phục Sinh và đến những kỳ công cao cả qua đó,
thông qua hoạt động của các thánh Tông Đồ, Ngài hướng dẫn Giáo
Hội sơ khai trên những nẻo đường. Chúa đã không vắng mặt
trong lịch sử tiếp theo của Giáo Hội: Ngài gặp gỡ chúng ta luôn
mãi nơi những người nam nữ chiêm ngắm sự hiện diện của Ngài
trong lời Ngài, trong các phép bí tích, và đặc biệt trong bí tích
Thánh Thể. Trong Phụng Vụ của Giáo Hội, trong lời kinh của Giáo
Hội, trong những cộng đoàn tín hữu sống động, chúng ta cảm
nghiệm tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta cảm nhận được sự
hiện diện của Ngài và qua đó chúng ta học biết cách nhận ra
sự hiện diện của Ngài trong đời sống hàng ngày. Ngài đã yêu
chúng ta trước và Ngài còn tiếp tục yêu thương chúng ta; cả chúng
ta, do đó, cũng có thể đáp lại với tình yêu. Thiên Chúa không
đòi nơi chúng ta một cảm giác mà chúng ta không sao tạo ra nổi.
Ngài yêu chúng ta, Ngài làm cho chúng ta thấy và cảm nhận được
tình yêu của Ngài, và vì "Ngài đã yêu thương chúng ta trước",
tình yêu có thể nở hoa như là một lời đáp trả bên trong chúng
ta.
Cuộc gặp gỡ này dần hé mở ra mạc khải theo đó tình yêu không
chỉ là một cảm xúc. Cảm xúc đến rồi đi. Một cảm xúc có
thể là một tia sáng loé lên huy hoàng lúc đầu, nhưng nó không
phải là sự viên mãn của tình yêu. Trước đó, chúng ta đã đề
cập đến tiến trình thanh luyện và trưởng thành, qua đó eros
trở nên viên mãn trong chính nó, trở nên tình yêu trong ý nghĩa đầy
đủ của từ này. Đặc trưng của tình yêu trưởng thành là nó
huy động mọi tiềm năng của con người; nó lôi cuốn toàn thể
con người, có thể nói như vậy. Sự tiếp xúc với những biểu
thị hữu hình của tình yêu Thiên Chúa có thể đánh thức trong chúng
ta một cảm giác hân hoan xuất phát từ cảm nhận mình đang được
yêu. Nhưng cuộc gặp gỡ này cũng thu hút cả ý chí và trí tuệ
của chúng ta. Nhìn nhận Thiên Chúa hằng sống là một con đường
hướng đến tình yêu, và lời "xin vâng" của ý chí chúng
ta trước thánh ý Ngài sẽ kết hiệp trí tuệ chúng ta, ý chí chúng
ta và những tình cảm của chúng ta lại trong hành vi ôm trọn tất
cả của tình yêu. Nhưng tiến trình này luôn luôn bất tận; tình
yêu không bao giờ "hoàn tất" và hoàn toàn; suốt đời, tình
yêu thay đổi và trưởng thành, và qua đó luôn trung tín với chính
mình. Idem velle atque idem nolle [9] – ao ước cùng một điều
và chê ghét cùng một điều - được người xưa nhìn nhận như là
nội dung chân thật của tình yêu: đàng này trở thành tương tự
với đàng kia, và điều đó dẫn đến một cộng đồng ý chí và
tư duy. Chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người chứa đựng
trong chính sự kiện là sự hiệp thông ý chí này tăng trưởng
trong sự hiệp thông ý nghĩ và tình cảm, qua đó ý chí chúng ta và
thánh ý Thiên Chúa càng ngày càng trùng hợp: Thánh ý Chúa không còn
là một ý chí xa lạ đối với tôi, là điều gì đó áp đặt trên
tôi từ bên ngoài bởi các giới răn, nhưng giờ đây đó là ý
của tôi, với nhận thức rằng Thiên Chúa hiện diện trong tôi còn
sâu xa hơn chính cái tôi của mình. [10] Từ đó sự từ bỏ mình
để hướng đến Thiên Chúa gia tăng và Thiên Chúa trở thành
niềm vui của chúng ta (x. Tv 73 [72]:23-28) .
18. Yêu tha nhân vì thế được chứng minh là có thể trong cách
thế mà Thánh Kinh và Chúa Giêsu đã chỉ ra. Nó được chứa đựng
trong chính sự kiện này là trong Thiên Chúa và với Thiên Chúa, tôi
yêu cả những người tôi không thích hay thậm chí không biết người
ấy. Điều này chỉ có thể xảy ra trên cơ sở của một cuộc
gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu, một cuộc gặp gỡ đã trở nên
một sự hiệp thông ý chí, một cuộc gặp gỡ ảnh hưởng đến
cả cảm xúc của tôi. Từ đó, tôi nhìn tha nhân này không chỉ
với đôi mắt và cảm xúc của mình nhưng từ quan điểm của Chúa
Giêsu Kitô. Bạn Ngài là bạn tôi. Vượt qua dáng vẻ bề ngoài, tôi
cảm nhận nơi tha nhân một ao ước bên trong muốn thấy một dấu
chỉ của tình yêu, của quan tâm. Tôi có thể trao cho họ dấu
chỉ này không chỉ thông qua các tổ chức được hình thành cho
những nhu cầu như thế, những tổ chức được chấp nhận có
lẽ như một nhu cầu chính trị. Khi nhìn với đôi mắt của Chúa
Kitô, tôi có thể trao cho tha nhân nhiều hơn những nhu cầu bề ngoài
của họ; tôi có thể trao cho họ ánh mắt yêu thương mà họ thèm
khát. Ở đây chúng ta thấy sự tương tác cần thiết giữa tình yêu
Thiên Chúa và tình yêu tha nhân mà Thư Thánh Gioan đã đề
cập với một sự nhấn mạnh như vậy. Nếu tôi chẳng có chút liên
hệ nào với Thiên Chúa trong đời tôi, tôi không thể thấy nơi
tha nhân những gì nhiều hơn là họ, và tôi không thể thấy nơi
họ hình bóng của Thiên Chúa. Nhưng nếu trong cuộc đời, tôi hoàn
toàn chẳng bao giờ chú ý đến ai, tình nghĩa với Chúa sẽ trở nên
khô cằn nếu nó xuất phát thuần tuý từ ước muốn được trở
nên "sốt sắng" và muốn thi hành "bổn phận tôn giáo"
của mình. Tình nghĩa ấy chỉ có thể trở thành "đúng cách",
chứ không hề có tình yêu trong đó. Chỉ sự sẵn sàng gặp gỡ
người anh em tôi và chứng tỏ cho người ấy thấy tình yêu của
mình, mới làm cho tôi cũng nhạy cảm với Thiên Chúa. Chỉ khi tôi
phục vụ người anh em tôi, mắt tôi mới mở ra cho tôi thấy
những gì Thiên Chúa đã làm cho tôi và Ngài yêu tôi biết dường
nào. Các thánh – hãy xem thí dụ Chân Phước Têrêxa thành Calcutta
– thường xuyên canh tân khả năng yêu thương tha nhân của họ
từ sự gặp gỡ với Chúa Thánh Thể, và ngược lại sự gặp
gỡ này đạt được hiện thực và chiều sâu của nó trong sự
phục vụ tha nhân. Tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu tha nhân vì
thế là không thể tách rời, chúng hình thành một giới răn duy
nhất. Nhưng cả hai sống từ tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã
yêu thương chúng ta trước. Nó không còn là vấn đề một
"lệnh truyền" áp đặt từ bên ngoài và đòi hỏi một điều
bất khả thi nữa, nhưng là một kinh nghiệm yêu đương, tự do cho
đi từ bên trong, một tình yêu tự bản chất cần phải được
chia sẻ với những người khác. Tình yêu triển nở qua tình yêu.
Tình yêu là "thần thánh" vì nó đến từ Thiên Chúa và
kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa; qua tiến trình hiệp nhất này
tình yêu biến chúng ta thành một "chúng tôi", vượt qua
sự chia rẽ của chúng ta và làm cho chúng ta nên một, cho đến khi
Thiên Chúa là "tất cả trong mọi sự" (1 Cor 15:28).
Chú Thích:
[1] Xem Jenseits von Gut und Böse, IV, 168.
[2] X, 69.
[3] Xem R. Descartes, Œuvres, ed. V. Cousin, vol. 12, Paris 1824, pp. 95ff.
[4] II, 5: SCh 381, 196.
[5] Ibid., 198.
[6] Xem Metaphysics, XII, 7.
[7] Xem Ps.-Dionysius the Areopagite, who in his treatise The Divine Names, IV,
12-14: PG 3, 709-713 calls God both eros and agape.
[8] Plato, Symposium, XIV-XV, 189c-192d.
[9] Sallust, De coniuratione Catilinae, XX, 4.
[10] Xem Saint Augustine, Confessions, III, 6, 11: CCL 27, 32.
(xem tiếp...)
Thông
điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu - Phần 2
Theo Bản dịch của
J.B. Đặng Minh An
Vietcatholic
News