Phụng
vụ - Mục vụ
Thông điệp
Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu - Phần 2
THÔNG ĐIỆP THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐÍCTÔ XVI GỞI CÁC ĐỨC GIÁM MỤC, CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ, CÁC TU SĨ NAM NỮ VÀ TẤT CẢ CÁC TÍN HỮU VỀ ĐỨC ÁI KITÔ GIÁO
(...tiếp theo)
PHẦN
II
BÁC ÁI
HỘI THÁNH, MỘT “CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG”,
THỂ HIỆN TÌNH YÊU
Hoạt động bác ái của Hội Thánh như là một cách thể hiện
tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi
19. Thánh Augustinô đã viết: “Nếu bạn thấy tình bác ái thì
bạn nhìn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi”. Trong những giòng suy tư trên,
chúng ta đã hướng về Đấng bị đâm thâu (x. Ga 19,37; Dcr 12,10),
để nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa Cha, Đấng do tình yêu thôi
thúc (x. Ga 3,16), đã sai Con yêu dấu duy nhất của mình đi vào
thế giới để cứu chuộc con người. Khi chết trên Thập giá - như
thánh Gioan kể lại - Đức Giêsu đã “trao Thần Khí” (x. Ga
19,30), báo trước quà tặng là Chúa Thánh Thần mà Người sẽ ban
sau khi phục sinh (Ga 20,22). Như thế đã ứng nghiệm lời hứa về
“những dòng sông mang nước hằng sống” sẽ tuôn chảy từ tâm
hồn các tín hữu, qua việc đổ tràn của Chúa Thánh Thần (Ga
7,33-38). Quả thế, Chúa Thánh Thần là nguồn sức mạnh bên trong làm
hoà nhập trái tim của họ với trái tim của Đức Giêsu và thúc
đẩy họ yêu thương anh em mình như Đức Giêsu đã yêu thương
họ, khi Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,1; 15,13)
và nhất là, khi Người trao ban mạng sống Người cho chúng ta (Ga
13,1; 15,13).
Thánh Thần cũng là nguồn sinh lực làm biến đổi con tim của
cộng đoàn hội thánh, để cộng đoàn trở thành chứng nhân cho
thế giới về tình yêu của Chúa Cha, Đấng muốn làm cho nhân
loại trở thành một gia đình duy nhất trong Con của Người. Toàn
bộ hoạt động của Hội Thánh là biểu lộ của một tình yêu
muốn tìm kiếm sự thiện hảo toàn vẹn cho con người: nó tìm cách
loan báo Tin mừng qua Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, một công
việc thường rất anh hùng khi được thực hiện trong lịch sử; và
nó tìm cách nâng cao con người trong các lãnh vực đa dạng của
cuộc sống và hoạt động nhân bản. Vì thế, yêu thương là công
việc phục vụ mà Hội Thánh thực hiện để luôn đáp ứng trước
những nỗi đau và nhu cầu của con người, kể cả các nhu cầu
vật chất. Việc phục vụ của đức ái, đó chính là khía
cạnh mà tôi muốn tập trung trong phần thứ hai của Thông điệp.
Bác ái như một nhiệm vụ của Hội Thánh
20. Yêu thương người lân cận, bắt nguồn từ tình yêu Thiên
Chúa, trước hết và trên hết là một nhiệm vụ của mỗi cá nhân
người tín hữu, nhưng nó cũng còn là nhiệm vụ của toàn thể
cộng đoàn Hội thánh ở mọi cấp độ: từ cộng đoàn địa phương
đến Hội thánh địa phương và Hội thánh hoàn vũ trong toàn thể
của nó. Hội thánh, trong tư cách một cộng đoàn, phải thực hành
tình yêu. Vì thế, tình yêu cũng cần được tổ chức nếu nó
muốn trở thành một công việc phục vụ có thứ tự đối với
cộng đoàn. Ý thức về nhiệm vụ này đã có một tính chất
thiết yếu trong Hội thánh ngay từ buổi đầu: “Tất cả các tín
hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem
bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu
cầu” (Cv 2, 44-45). Bằng những lời này, thánh Luca đưa ra một
thứ định nghĩa về Hội thánh, với những yếu tố cấu thành là
sự trung thành đối với “lời giảng dạy của các thánh tông đồ”,
“hiệp thông” (koinonia), “bẻ bánh”, và “cầu nguyện” (Cv
2, 42). Yếu tố “hiệp thông” không được xác định rõ ngay
từ đầu, nhưng xuất hiện cách cụ thể trong những câu được
trích dẫn trên: nó hệ tại ở sự kiện các tín hữu để mọi
sự làm của chung và giữa họ, không còn có sự phân biệt giữa
người giàu và người nghèo (x. Cv 4,32-37). Hình thức triệt để này
của sự hiệp thông vật chất thực tế không còn tồn tại với
sự tăng trưởng của Hội Thánh. Nhưng điểm cốt yếu của nó còn
lưu lại: trong cộng đoàn các tín hữu, không thể tồn tại một
hình thức nghèo đói là từ chối với ai điều gì cần thiết để
có một cuộc sống xứng đáng.
21. Một bước quyết định trong việc tìm kiếm đầy khó khăn
những phương thế để thực hiện nguyên tắc nền tảng này của
Giáo hội được thấy rõ qua việc chọn lựa bẩy người, vốn là
khởi điểm của chức vụ phó tế (x. Cv 6,5-6). Quả vậy,
trong Hội Thánh tiên khởi, trong việc phân phát lương thực hằng
ngày cho các bà goá, có một sự chênh lệch nảy sinh giữa những
người nói tiếng Do Thái và những người nói tiếng Hy Lạp. Các
Tông đồ, vì đã được giao phó trước tiên “việc cầu
nguyện” (Bí tích Thánh Thể và phụng vụ) và “việc phục vụ
Lời”, cảm thấy quá tải với “việc phục vụ bàn ăn”, vì
thế các ngài quyết định dành cho mình nhiệm vụ chính yếu và
chỉ định một nhóm bẩy người làm công việc kia, cũng cần
thiết trong Hội Thánh. Tuy nhiên, nhóm này không chỉ chu toàn một
công việc thuần túy kỹ thuật là phân phát: họ là những con người
“đầy Thần Khí và khôn ngoan” (x. Cv 6,1-6). Điều đó có
nghĩa là công việc phục vụ xã hội mà họ phải đảm nhận thì
thật cụ thể, tuy nhiên đồng thời đó cũng là một việc phục
vụ thiêng liêng; đối với họ đó quả là một việc phục vụ
thiêng liêng đích thực, thực hiện một nhiệm vụ cốt yếu của
Hội Thánh, đó là tình yêu đối với người lân cận được tổ
chức cho có trật tự. Với sự hình thành nhóm bẩy này, “diaconia”—
thừa tác vụ bác ái được thực thi một cách cộng đồng và
trật tự—trở nên thành phần trong cơ cấu nền tảng của Hội
Thánh.
22. Trải qua năm tháng, với sự bành trướng dần dần của Hội
Thánh, việc thực hành đức bác ái được thiết lập như một
hoạt động cốt yếu của Hội Thánh, cùng với việc ban phát các
bí tích và loan báo Lời: tình yêu đối với các quả phụ và kẻ
mồ côi, người bị tù đày và người bệnh, và người túng
thiếu dưới mọi hình thức, thì cũng thiết yếu đối với Hội
Thánh như thừa tác vụ các bí tích và việc rao giảng Tin mừng.
Hội Thánh không thể lơ là việc phục vụ bác ái cũng như không
thể lơ là trong việc ban các bí tích và Lời. Một vài quy chiếu
cũng đủ chứng tỏ điều này. Thánh Giútinô tử đạo († c.
155) khi nói về cuộc cử hành ngày Chúa Nhật của các kitô hữu,
cũng đã đề cập đến hoạt động bác ái của họ, vì nó gắn
liền với Bí tích Thánh Thể. Những người khá giả đã dâng cúng
theo khả năng của họ, mỗi người tùy theo ý nguyện của họ; Giám
mục sử dụng những của này để trợ giúp các trẻ mồ côi, người
goá bụa, người bệnh và những người vì những lý do khác đang
túng quẫn, chẳng hạn những người bị tù đày và những người
ngoại kiều. [12] Đại văn sĩ kitô giáo Tertullian († sau 220)
kể lại làm sao những người ngoại đã bị đánh động khi thấy
người kitô hữu quan tâm đến những nhu cầu dưới mọi hình
thức.[13] Và khi thánh Ignatiô thành Antiôkia († c. 117)
mô tả Giáo hội Rôma “đứng đầu trong việc bác ái (agape)”,[14]
chúng ta có thể nghĩ rằng với định nghĩa này, ngài cũng
muốn diễn tả một cách nào đó hoạt động bác ái cụ thể.
23. Ở đây có lẽ hữu ích khi đề cập đến những cơ cấu pháp
lý tiên khởi liên quan đến việc phục vụ bác ái trong Hội Thánh.
Vào khoảng giữa thế kỷ IV, chúng ta thấy sự phát triển của
“diaconia” tại Ai Cập: đó là cơ chế trong mỗi đan
viện, chịu trách nhiệm về các hoạt động cứu tế, nói cách khác,
việc phục vụ bác ái. Suốt sáu thế kỷ cơ chế này đã phát
triển thành một tổ chức có đầy đủ tư cách pháp lý, mà chính
quyền dân sự đã giao phó một phần thóc lúa để phân phát cho dân
chúng. Tại Ai Cập, không chỉ mỗi đan viện, nhưng mỗi giáo
phận cuối cùng đã có diaconia riêng; cơ chế này đã phát
triển cả tại Đông phương lẫn Tây phương. Đức Giáo hoàng Grêgôriô
Cả († 604) đã đề cập đến diaconia của thành Napôli;
trong khi tại Rôma, các diaconia được các tài liệu ám chỉ
từ thế kỷ VII và VIII. Nhưng hoạt động cứu tế cho người nghèo
và người đau khổ vốn đã là một thành phần thiết yếu của
Hội Thánh tại Rôma ngay từ lúc đầu, theo những nguyên tắc của
đời sống kitô giáo được trình bày trong sách Công vụ các
Tông đồ. Hoạt động ấy tìm thấy một sự diễn tả
sống động trong trường hợp của phó tế Lôrensô († 258). Bài tường
thuật cảm động về việc tử đạo của thánh Lôrensô đã được
biết đến nhờ thánh Ambrosiô († 397) và cung cấp một bức chân
dung xác thực về vị thánh. Sau khi Đức Giáo hoàng và các bạn phó
tế bị bắt, Lôrensô, vì là người chịu trách nhiệm chăm sóc các
người nghèo tại Rôma, đã được cho một thời gian để gom góp
các của cải châu báu của Giáo hội và trao nộp cho chính quyền.
Ngài đã phân phát tiền của có trong tay cho người nghèo và sau đó
trình diện với chính quyền các người nghèo như là kho báu đích
thực của Giáo hội.[15] Dù những chi tiết này đáng tin về
phương diện lịch sử đến mức độ nào đi nữa, thánh Lôrensô
luôn hiện diện trong ký ức của Hội Thánh như một nhân vật tiêu
biểu về lòng bác ái của Hội Thánh.
24. Đề cập đến Hoàng đế Giulianô Kẻ Bội giáo († 363) cũng có
thể minh chứng Hội Thánh tiên khởi đã xem việc thực hành bác
ái có tổ chức thiết yếu như thế nào. Khi lên sáu tuổi, Giulianô
đã chứng kiến người cha, các anh em và những thành viên khác
của gia đình mình bị đội bảo vệ hoàng cung giết hại; đúng
hay sai thì không biết, ông đã gán hành vi bạo hành này cho Hoàng
đế Constantinô, người tự nhận là một kitô hữu trổi trang. Vì
thế, đức tin kitô giáo dứt khoát đã bị mất uy tín dưới con
mắt của ông. Khi trở thành hoàng đế, Giulianô quyết định tái
lập ngoại giáo, tôn giáo của đế quốc Rôma cũ, nhưng đồng
thời canh tân lại, nhằm làm cho nó trở thành thực sự sức
mạnh hấp dẫn của đế quốc. Trong kế hoạch này ông chịu ảnh
hưởng rất nhiều từ kitô giáo. Ông đã thiết lập một hàng giáo
phẩm gồm các Đại tư tế và các tư tế là những người phải
cổ võ cho tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người lân
cận. Trong một lá thư,[16] ông viết rằng khía cạnh duy
nhất của kitô giáo đã đánh động ông là hoạt động bác ái
của Hội Thánh. Vì thế, ông xem điều đó là thiết yếu đối
với tôn giáo mới đến nỗi bên cạnh hệ thống bác ái của
Hội Thánh, ông đã thiết lập một hoạt động tương tự cho tôn
giáo của ông. Theo ông, đó chính là lý do mà những người
“Galilê” được quần chúng yêu thích. Họ cần phải được noi
gương và bị vượt qua. Như thế, Hoàng đế đã khẳng định
rằng bác ái là một điểm đặc trưng quyết định của cộng đoàn
kitô hữu, của Hội Thánh.
25. Đến đây, hai sự kiện cốt yếu đã nảy sinh từ suy tư của
chúng ta:
a) Bản tính sâu xa nhất của Hội Thánh được diễn tả qua
ba nhiệm vụ: loan báo lời của Thiên Chúa (kerygma-martyria),
cử hành các bí tích (leitourgia), và thi hành tác vụ bác ái
(diakonia). Những nhiệm vụ này bao hàm lẫn nhau và không
thể tách rời. Đối với Hội Thánh, bác ái không phải là một
thứ hoạt động trợ giúp xã hội mà ta cũng có thể để lại
cho người khác làm, nhưng thuộc về bản tính của Hội Thánh,
một lối diễn tả không thể thiếu của bản chất Hội Thánh.[17]
b) Hội Thánh là gia đình của Thiên Chúa trong trần gian.
Trong gia đình này không ai phải chịu đau khổ vì thiếu cái cần
thiết của sự sống. Đồng thời caritas - agape trải rộng vượt
qua biên giới của Hội Thánh. Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu
vẫn là một chuẩn mực đòi chúng ta tỏ bày tình yêu phổ quát
đối với người thiếu thốn mà chúng ta “tình cờ” gặp gỡ
(x. Lc 10,31), dù họ là ai đi chăng nữa. Không hề giảm giá
trị của giới luật này về tình yêu phổ quát, Hội Thánh cũng có
một trách nhiệm đặc biệt: trong gia đình Hội Thánh không ai
phải chịu đau khổ vì thiếu thốn. Giáo huấn của Thư gởi
tín hữu Galát thật mạnh mẽ: “Vậy bao lâu còn thời
giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho
những anh em trong cùng đại gia đình đức tin” (6,10).
Công bằng và Bác ái
26. Kể từ thế kỷ XIX, đã nổi lên sự chống đối hoạt động
bác ái của Hội Thánh, sự chống đối này sau đã phát triển
với sự nhấn mạnh đặc biệt của thuyết Mácxít: người ta nói
rằng người nghèo không cần đến bác ái nhưng cần công bằng.
Những công việc bác ái—bố thí—quả là một cách thức để
người giàu lẩn tránh bổn phận hành động theo công bằng và
một phương thế để xoa dịu lương tâm, trong khi vẫn củng cố
địa vị của họ và tước đi quyền lợi của kẻ nghèo. Thay vì
góp phần vào việc bảo vệ nguyên trạng (status quo) qua
những công việc bác ái cá nhân, chúng ta cần xây dựng một
trật tự xã hội công bằng trong đó tất cả mọi người lãnh
phần của mình trong số những của cải trần gian và không còn
lệ thuộc vào bác ái nữa. Phải thừa nhận là có một vài chân
lý trong luận cứ này, nhưng cũng có rất nhiều điều sai lầm.
Quả thật là việc theo đuổi công bằng phải là một quy tắc
nền tảng của Quốc gia và mục tiêu của một trật tự xã hội
công bằng là bảo đảm cho mỗi người, theo nguyên tắc phụ đới,
có được phần của mình trong số của cải của cộng đoàn. Điều
này luôn được giáo huấn kitô giáo về Quốc gia và giáo huấn xã
hội của Hội Thánh nhấn mạnh. Xét theo lịch sử, vấn đề tổ
chức công bằng tài sản chung đã mang lại một chiều kích mới cùng
với việc kỹ nghệ hoá của xã hội vào thế kỷ XIX. Sự xuất
hiện của kỹ nghệ tân tiến đã làm cho các cơ cấu của xã
hội cũ bị sụp đổ, đang khi sự lớn mạnh của một giao cấp công
nhân được trả lương gây ra sự thay đổi triệt để trong cấu
trúc xã hội. Mối tương quan giữa tiền vốn và lao động giờ đây
trở thành một vấn đề quyết định—một vấn đề trong hình
thức ấy cho tới nay không hề được biết đến. Tiền vốn và các
phương tiện sản xuất giờ đây là những nguồn sức mạnh mới
mà một khi được tập trung trong tay của một số ít người, đã
dẫn đến việc hủy bỏ các quyền lợi của giai cấp lao động,
điều ấy cần phải chống lại.
27. Cần phải thừa nhận rằng sự lãnh đạo của Hội Thánh đã
chậm trễ trong việc nhận thức rằng vấn đề tổ chức công
bằng cơ cấu của xã hội cần phải được tiếp cận theo một cách
thức mới mẻ. Đã có những vị đi tiên phong như Giám mục
Ketteler ở Mainz († 1877), và đáp lại những nhu cầu cụ thể, đã
nảy sinh những nhóm, hiệp hội, phong trào, liên hiệp và đặc
biệt, những dòng tu mới được thành lập trong thế kỷ XIX để
chống lại sự nghèo đói, các tệ nạn và tình trạng bất cập
trong việc giáo dục. Vào năm 1891, quyền giáo huấn của giáo hoàng
đã can thiệp qua Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô
XIII. Tiếp theo là Thông điệp Quadragesimo Anno của Đức
Piô XI năm 1931. Vào năm 1961 Chân phước Gioan XXIII ban hành Thông điệp
Mater et Magistra, trong khi đó Đức Phaolô VI, trong Thông
điệp Populorum Progressio (1967) và Tông thư Octogesima
Adveniens (1971), đề cập cách mạnh mẽ đến vấn đề xã
hội, lúc ấy đã trở nên đặc biệt nóng bỏng tại Châu Mỹ La
Tinh. Vị Tiền nhiệm vĩ đại của tôi, Đức Gioan-Phaolô II đã để
lại cho chúng ta một bộ ba Thông điệp xã hội: Laborem
Exercens (1981), Sollicitudo Rei Socialis (1987) và
cuối cùng Centesimus Annus (1991). Đối diện với những
hoàn cảnh và những vấn đề mới, giáo huấn xã hội của Công
giáo đã phát triển dần dần, và giờ đây đã có một trình bày
dễ hiểu trong Cuốn Tóm lược giáo huấn xã hội của Hội Thánh
do Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình xuất bản năm
2004. Thuyết Mácxít đã xem cách mạng thế giới và các biện pháp
sơ bộ như là thuốc chữa kỳ diệu cho vấn đề xã hội: cách
mạng và tập thể hoá các phương tiện sản xuất đến theo sau,
như đã được khẳng định, sẽ lập tức biến đổi sự việc
cho tốt hơn. Ao tưởng này đã tan biến. Trong hoàn cảnh phức
tạp của ngày hôm nay, cũng vì sự tăng trưởng của một kinh tế
toàn cầu hoá, giáo huấn xã hội của Hội Thánh đã trở nên
một quy chiếu nền tảng, khi đề nghị những định hướng có giá
trị vượt quá ranh giới của Hội Thánh: đối diện với sự phát
triển liên tục, những nguyên tắc chỉ đạo này cần được đề
cập đến trong bối cảnh đối thoại với tất cả những ai
thật sự quan tâm đến nhân loại và thế giới chúng ta đang
sống.
28. Để xác định chính xác hơn mối tương quan giữa việc dấn
thân cần thiết cho công bằng và thừa tác vụ bác ái, hai hoàn
cảnh nền tảng cần được xem xét:
a) Tổ chức đúng đắn cho xã hội và Quốc gia là một trách
nhiệm cốt yếu của chính trị. Như thánh Augustinô đã từng nói,
một Quốc gia không được cai trị theo công bằng chỉ có thể là
một bầy trộm cướp: “Remota itaque iustitia quid sunt regna nisi
magna latrocinia?”[18] Sự phân biệt giữa cái gì
thuộc về Xêda và cái gì thuộc về Thiên Chúa (x. Mt 22,21) là
nền tảng đối với kitô giáo, nói cách khác, sự phân biệt
giữa Hội Thánh và Quốc gia, hoặc, như Công đồng Vatican II diễn
đạt, sự độc lập của lãnh vực trần thế.[19] Chính
quyền không thể áp lực trên tôn giáo, tuy nhiên nó phải bảo đảm
quyền tự do tôn giáo và sự hoà hợp giữa những người theo các
tôn giáo khác nhau. Về phần mình, Hội Thánh, như một diễn tả
về phương diện xã hội của đức tin kitô giáo, có một sự độc
lập riêng và được tổ chức trên nền tảng của đức tin như
một cộng đoàn mà Chính quyền phải nhìn nhận. Hai lãnh vực phân
biệt lẫn nhau, tuy vậy luôn có quan hệ lẫn nhau.
Công bằng vừa là mục tiêu và tiêu chuẩn nội tại của mọi
quyền lực chính trị. Chính trị còn hơn là một cơ chế để xác
định luật lệ cho đời sống công cộng: nguồn gốc và mục đích
của nó được tìm thấy trong công bằng, và nó thuộc về lãnh
vực đạo đức. Chính quyền không thể không đối diện với câu
hỏi: làm thế nào để công bằng có thể được thực hiện nơi
đây và lúc này. Nhưng câu hỏi đó bao hàm một câu hỏi triệt để
hơn nữa: công bằng là gì? Đây là một vấn đề liên quan đến
lý trí thực hành; nhưng để có thể được sử dụng cách đúng
đắn, lý trí cần phải trải qua sự thanh luyện thường xuyên,
bởi vì lý trí không bao giờ có thể được hoàn toàn giải thoát
khỏi nguy cơ của một thứ mù quáng về phương diện đạo đức,
gây ra bởi tác dụng chói chang của quyền lực và lợi ích.
Tại điểm này, chính trị và đức tin gặp nhau. Đức tin do bởi
bản tính riêng là một sự gặp gỡ với Thiên Chúa hằng
sống—một cuộc gặp gỡ mở ra những chân trời mới vượt
khỏi lãnh vực của lý trí. Nhưng đồng thời nó là một sức
mạnh có sức thanh luyện chính lý trí. Khởi từ viễn ảnh của
Thiên Chúa, đức tin giải thoát lý trí khỏi sự mù quáng và vì
thế giúp lý trí trở nên hoàn thiện hơn. Đức tin giúp lý trí
chu toàn công việc cách hiệu quả hơn và thấy mục tiêu riêng rõ
hơn. Giáo thuyết xã hội của Công giáo đặt mình vào chỗ ấy: nó
không nhắm đem lại cho Hội Thánh quyền lực trên Chính quyền. Nó
càng lại không muốn áp đặt trên những người không chia sẻ cùng
một đức tin lối suy nghĩ và cách hành động riêng của mình. Nó
chỉ muốn giúp thanh luyện lý trí và góp phần vào sự hiểu
biết và đạt tới điều gì là công bình, nơi này và lúc này.
Giáo huấn xã hội của Hội Thánh biện luận trên nền tảng của
lý trí và luật tự nhiên, nghĩa là, trên nền tảng của cái gì tương
hợp với bản tính của nhân loại. Hội Thánh nhìn nhận rằng không
phải trách nhiệm của mình là làm cho giáo huấn này chiếm ưu
thế trong lãnh vực chính trị. Đúng hơn, Hội Thánh muốn giúp đào
tạo lương tâm trong lãnh vực chính trị và kích thích sự hiểu
biết rõ ràng hơn những đòi hỏi đích thực của sự công bằng
cũng như sự sẵn sàng lớn hơn để hành động cho phù hợp, cho dù
nó có thể gây nên xung đột với những hoàn cảnh của lợi ích
riêng tư. Xây dựng một xã hội công bằng và trật tự dân sự,
nơi ấy mỗi người lãnh nhận điều thuộc về họ, là một
nhiệm vụ cốt yếu mà mọi thế hệ phải luôn mãi quan tâm. Vì là
một nhiệm vụ chính trị, nó không thể là trách nhiệm trực
tiếp của Hội Thánh. Tuy nhiên, bởi vì đây cũng là một trách
nhiệm quan trọng nhất của nhân loại, Hội Thánh buộc lòng phải
trao tặng một sự đóng góp riêng, qua việc thanh tẩy lý trí và
qua việc huấn luyện đạo đức, để hiểu biết và chu toàn
những đòi hỏi của công bằng trong lãnh vực chính trị.
Hội Thánh không thể và không phải gánh lấy cho mình cuộc chiến
chính trị để đem lại một xã hội công bằng nhất. Hội Thánh
không thể và không phải thay thế Chính quyền. Tuy nhiên đồng
thời Hội Thánh không thể và không phải ở bên lề trong cuộc đấu
tranh cho công bằng. Hội Thánh cần đóng vai trò của mình qua
việc biện luận thuần lý và phải thức tỉnh năng lực thiêng liêng
mà nếu thiếu, công bằng vốn luôn đòi hỏi sự hy sinh, sẽ không
thắng thế và tăng trưởng. Một xã hội công bằng phải là thành
quả của chính trị, chứ không phải của Hội Thánh. Tuy nhiên
cổ võ cho công bằng qua những nỗ lực nhằm đem lại sự cởi
mở của tâm trí và ước muốn theo những đòi hỏi của ích
chung, là điều gì can hệ đến Hội Thánh cách sâu xa.
b) Tình yêu—caritas—sẽ luôn cần thiết, dù trong
một xã hội công bằng nhất. Không hề có một tổ chức Quốc
gia đúng đắn đến độ có thể xem công việc phục vụ của tình
yêu là thừa thãi. Ai muốn loại trừ tình yêu thì cũng đang
chuẩn bị loại trừ con người. Sẽ luôn có những đau khổ đang
kêu cầu sự an ủi và giúp đỡ. Sẽ luôn có sự cô đơn. Sẽ luôn
có những hoàn cảnh thiếu thốn vật chất nơi mà sự giúp đỡ dưới
hình thức của tình yêu cụ thể đối với tha nhân là cần
thiết. Quốc gia muốn cung cấp mọi sự, muốn thâu tóm mọi sự,
cuối cùng sẽ trở nên một bộ máy quan liêu không thể bảo đảm
cái cốt yếu mà con người đang đau khổ—mọi con người—cần
đến: nghĩa là, sự quan tâm của một cá nhân biết yêu thương.
Chúng ta không cần một Chính quyền điều phối và kiểm soát
mọi sự, nhưng một Chính quyền, tuân theo nguyên tắc phụ đới,
hiểu biết và nâng đỡ cách quảng đại những sáng kiến nảy
sinh từ các lực lượng xã hội khác nhau và phối hợp cách bộc
phát và gần gũi với những ai đang thiếu thốn. Hội Thánh là
một trong những lực lượng sống động ấy: Hội Thánh sống động
với tình yêu mà Thần Khí Đức Kitô nhóm lên. Tình yêu ấy không
chỉ ban tặng cho con người sự trợ giúp vật chất, nhưng còn là
sự tĩnh dưỡng và chăm sóc cho linh hồn, vốn là những điều thường
còn cần thiết hơn những trợ giúp vật chất. Cuối cùng, luận
điệu cho rằng những cơ cấu xã hội công bằng sẽ làm cho
những công việc bác ái trở nên thừa thãi che dấu một quan
niệm duy vật về con người: khái niệm sai lầm là con người có
thể sống chỉ “bằng cơm bánh” (Mt 4,4; x. Dt 8,3)—một
xác tín làm hạ giá con người và cuối cùng coi thường tất cả
những gì là nhân tính.
29. Giờ đây chúng ta có thể xác định chính xác hơn, trong đời
sống của Hội Thánh, mối tương quan giữa sự dấn thân tổ
chức Quốc gia và xã hội cho công bằng một mặt, và tổ chức
hoạt động bác ái mặt khác. Chúng ta đã thấy rằng việc hình
thành các cơ cấu công bình không trực tiếp là nhiệm vụ của
Hội Thánh, nhưng thuộc lãnh vực chính trị, lãnh vực sử dụng lý
trí cách độc lập. Hội Thánh có một trách nhiệm gián tiếp nơi
đây, trong sự đóng góp vào việc thanh tẩy lý trí và thức tỉnh
những sức mạnh luân lý mà nếu không có thì các cơ cấu công bình
không được thiết lập và có hiệu quả lâu dài.
Mặt khác, nhiệm vụ hành động cho một trật tự công bình của
xã hội thuộc về người tín hữu giáo dân. Là công dân của
một Quốc gia, họ được kêu gọi tham gia trong tư cách cá nhân vào
đời sống công cộng. Vì thế họ không thể từ chối tham gia vào
“những hoạt động đa dạng về kinh tế, xã hội, luật pháp, hành
chánh, văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có tổ
chức và qua các định chế.” [21] Vì thế sứ mạng của người
kitô hữu giáo dân là định hình đời sống xã hội cách đúng đắn,
bằng cách tôn trọng sự độc lập chính đáng của nó và cộng tác
với các công dân khác, tùy theo khả năng của mỗi người và chu
toàn trách nhiệm riêng của mình.[22] Dù những diễn tả riêng
của đức ái Hội Thánh không bao giờ có thể bị lẫn lộn với
hoạt động của Chính quyền, vẫn đúng là đức ái phải linh
hoạt toàn thể đời sống của người kitô hữu giáo dân và do đó
hoạt động chính trị của họ nữa, được sống như là “đức
ái xã hội”.[23]
Mặt khác, các tổ chức bác ái của Hội Thánh làm thành opus
proprium (công việc riêng), một nhiệm vụ phù hợp với mình,
trong đó Hội Thánh không cộng tác cách bên lề, nhưng hành động
như một chủ thể với trách nhiệm trực tiếp, khi làm điều phù
hợp với bản tính của mình. Hội Thánh không bao giờ có thể
được miễn trừ khỏi việc thực thi bác ái như một hoạt động
có tổ chức của các tín hữu, và mặt khác, sẽ không có một hoàn
cảnh nào mà bác ái của mỗi cá nhân kitô hữu là không cần
thiết, bởi vì ngoài sự công bằng, con người cần đến, và sẽ
luôn cần đến tình yêu.
Nhiều cơ cấu khác nhau của công việc bác ái trong bối cảnh xã
hội của ngày hôm nay
30. Trước khi thử đưa ra một mô tả cụ thể về hoạt động
phục vụ con người của Hội Thánh, giờ đây tôi muốn xem hoàn
cảnh tổng quát của cuộc chiến cho công bằng và tình yêu trên
thế giới ngày hôm nay.
a) Ngày hôm nay các phương tiện truyền thông đã làm cho hành
tinh của chúng ta trở thành nhỏ hơn, bằng cách nhanh chóng thu
hẹp khoảng cách giữa các dân tộc và văn hoá khác nhau. “Sự
sống chung” này đôi khi làm nảy sinh sự hiểu lầm và căng
thẳng, tuy nhiên khả năng biết hầu như tức khắc nhu cầu của
kẻ khác thách thức chúng ta chia sẻ hoàn cảnh và khó khăn của
họ. Dầu có những tiến bộ lớn lao về mặt khoa học và kỹ
thuật, mỗi ngày chúng ta thấy biết bao đau khổ trên thế giới
do bởi nhiều thứ nghèo khó khác nhau, cả về vật chất lẫn tinh
thần. Thời đại chúng ta kêu gọi một sự sẵn sàng mới mẻ để
trợ giúp những người lân cận đang thiếu thốn. Công đồng
Vatican II đã nói rất rõ về điểm này: “Thời nay, nhờ những
phương tiện truyền thông tốt hơn, khoảng cách giữa con người
không còn nữa, những hoạt động bác ái có thể và phải bao
gồm mọi người và mọi nhu cầu.”[24]
Mặt khác—và đó cũng là một khía cạnh thách thức và đồng
thời tích cực của tiến trình toàn cầu hoá—giờ đây chúng ta
có được trong tầm tay nhiều phương tiện để đem lại sự trợ
giúp nhân đạo cho anh chị em chúng ta đang thiếu thốn, đặc
biệt là các hệ thống hiện đại để phân phối lương thực và
quần áo, cung cấp nhà cửa và chăm sóc. Mối quan tâm đối với
những người lân cận của chúng ta vượt qua ranh giới của cộng
đồng quốc gia và dần dần mở rộng chân trời ra toàn thể thế
giới. Công đồng Vatican II đã nhận xét cách đúng đắn rằng
“trong các dấu chỉ của thời đại chúng ta, phải đặc biệt chú
ý tới ý thức ngày càng gia tăng và không thể tránh được về tình
liên đới giữa các dân tộc.”[25] Các cơ quan của quốc
gia và các hiệp hội nhân đạo hành động để cổ võ điều này,
nhờ tiền trợ cấp hay giảm thuế, hoặc cung cấp những tài nguyên
đáng kể cho người khác. Như thế sự liên đới được xã hội
dân sự tỏ bày vượt quá cách đầy ý nghĩa sự liên đới của
các cá nhân.
b) Hoàn cảnh này đã dẫn đến sự khai sinh và tăng trưởng
của nhiều hình thức cộng tác giữa các Quốc gia và các cơ quan
của Hội Thánh, điều này đã mang lại nhiều kết quả. Các cơ
quan của Hội Thánh, với hoạt động trong sáng và trung thành với
nhiệm vụ làm chứng cho tình yêu, đã có thể đem lại một phẩm
tính kitô giáo cho cả các cơ quan dân sự nữa, bằng cách cổ võ
một sự cộng tác lẫn nhau mà chỉ có thể đem lại hiệu năng
cho công việc bác ái.[26] Nhiều tổ chức bác ái hay từ
thiện cũng đã được thành lập và những tổ chức này đã dấn
thân để đi đến những giải pháp thích hợp cho những vấn đề
xã hội và chính trị của ngày hôm nay. Một hiện tượng quan
trọng của thời đại chúng ta là sự xuất hiện và lan rộng
những hình thức thiện nguyện khác nhau, đảm nhận rất nhiều hình
thức phục vụ.[27] Tại đây tôi muốn nói lên lời cám ơn
và kính trọng đặc biệt đối với tất cả những ai góp phần vào
trong các hoạt động này bất cứ cách nào. Đối với người
trẻ, sự dấn thân ngày càng lan rộng này làm thành một trường
học của sự sống, ngôi trường này đào tạo họ về tình liên
đới và sự sẵn sàng hiến dâng cho người khác, không chỉ bằng
những trợ giúp vật chất mà còn bằng chính bản thân họ. Nền
văn hoá-đối lập của sự chết, vốn tìm cách diễn tả chẳng
hạn qua việc sử dụng ma túy, đã được chặn lại bởi một tình
yêu vô vị lợi, tình yêu này tỏ bày chính mình là một văn hoá
của sự sống bằng chính ước muốn “đánh mất mạng sống mình”
(x. Lc 17,33) cho kẻ khác.
Trong Hội Thánh Công giáo, và cũng như trong các Giáo hội khác và
các Cộng đoàn Giáo hội, những hình thức mới của hoạt động
bác ái đã nảy sinh, trong khi những hình thức cũ hơn đã tái
xuất hiện với một nhiệt tình đổi mới. Trong những hình thức
mới này, thường có thể thiết lập một mối liên kết sinh
nhiều hoa trái giữa loan báo Tin mừng và công việc bác ái. Tại
đây tôi muốn tái khẳng định cách rõ ràng điều mà vị tiền
nhiệm vĩ đại của tôi, Đức Gioan-Phaolô II đã viết trong Thông
điệp Sollicitudo Rei Socialis [28] khi ngài xác nhận sự
sẵn sàng cộng tác của Hội Thánh Công giáo với các cơ quan bác
ái của các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội, bởi vì tất cả
chúng ta có cùng động lực nền tảng và nhắm đến cùng một
mục tiêu: một chủ nghĩa nhân đạo đích thực, biết rằng con người
được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và muốn giúp con người
sống theo một lối sống xứng hợp với phẩm giá ấy. Thông điệp
Ut Unum Sint của ngài đã nhấn mạnh rằng việc xây
dựng một thế giới tốt đẹp hơn đòi hỏi các kitô hữu phải
lên tiếng chung với nhau trong khi hành động để ghi khắc “lòng
kính trọng đối với quyền lợi và nhu cầu của mọi người, đặc
biệt những người nghèo, người thấp kém và không được bảo
vệ.” [29] Ở đây tôi muốn diễn tả sự hài lòng của tôi
khi lời mời gọi này đã có được một âm vang rộng rãi trong
nhiều sáng kiến khắp thế giới.
Khía cạnh riêng biệt của hoạt động bác ái của Hội Thánh
31. Sự gia tăng các tổ chức khác nhau dấn thân trong việc đáp
ứng các nhu cầu khác nhau của con người rốt cuộc là do bởi
sự kiện: giới luật yêu thương người lân cận đã được Đấng
Tạo hoá ghi khắc trong chính bản tính con người. Đó cũng là
kết quả của sự hiện diện của kitô giáo trong trần gian, bởi
vì kitô giáo thường sống và thể hiện mệnh lệnh này, mệnh
lệnh thường bị lu mờ theo thời gian. Cuộc cải tổ ngoại giáo
do hoàng đế Giulianô Kẻ Bội giáo thực hiện chỉ là một ví
dụ ban đầu của hiệu quả này; ở đây chúng ta thấy làm sao
quyền lực của kitô giáo lan rộng vượt quá các ranh giới của
đức tin kitô giáo. Vì lý do ấy, thật là quan trọng khi hoạt động
bác ái của Hội Thánh giữ được tất cả vẻ huy hoàng của nó
và không trở thành chỉ là một hình thức khác của trợ giúp xã
hội. Vậy đâu là những yếu tố nền tảng của bác ái kitô giáo
và của Giáo hội?
a) Theo mẫu gương đề ra trong dụ ngôn người Samaritanô nhân
lành, bác ái kitô giáo trước tiên là lời đáp trả đơn sơ cho
những nhu cầu cấp thời và những hoàn cảnh riêng biệt: cho kẻ
đói ăn, mặc cho kẻ ở trần, chăm sóc và chữa lành bệnh nhân,
thăm viếng kẻ bị tù đày v.v… Các tổ chức bác ái của Hội
Thánh, khởi đầu với tổ chức Caritas (ở bình diện giáo
phận, quốc gia, quốc tế), phải làm hết mọi khả năng của mình
để cung cấp các tài nguyên và trên tất cả là nhân sự cho công
việc này. Những người chăm sóc những kẻ thiếu thốn trước tiên
phải có nghiệp vụ: họ phải được đào tạo cách đúng đắn
họ phải làm gì và làm như thế nào, và dấn thân trong việc chăm
sóc thường xuyên. Quả vậy, trong khi khả năng nghiệp vụ là
một đòi hỏi đầu tiên, nền tảng, điều đó không đủ. Chúng
ta đang quan hệ với những con người, và con người luôn cần cái
gì hơn là sự chăm sóc về phương diện kỹ thuật. Họ cần đến
tình người. Họ cần đến sự quan tâm chân thành. Những ai làm
việc trong những tổ chức bác ái của Hội Thánh phải nên lỗi
lạc bởi sự kiện là họ không chỉ đáp ứng những nhu cầu
hiện tại, nhưng họ hiến mình cho người khác với sự quan tâm
chân thành, bằng cách giúp người khác cảm nghiệm sự phong phú
của nhân tính họ. Vì thế, thêm vào việc đào tạo chuyên môn
cần thiết, những người làm bác ái cần được “đào tạo con
tim”: họ cần được dẫn tới gặp Thiên Chúa trong Đức Kitô,
Đấng thức tỉnh tình yêu của họ và mở lòng họ ra cho kẻ khác.
Như thế, tình yêu đối với tha nhân không còn đối với họ là
một lề luật áp đặt từ bên ngoài, nhưng là một hệ luận phát
xuất từ đức tin, một đức tin trở nên sống động nhờ tình yêu
(x. Gl 5,6).
b) Hoạt động
bác ái của kitô giáo phải độc lập với các phe nhóm và ý
thức hệ. Nó không phải là một phương thế để thay đổi trần
gian về phương diên ý thức hệ, và không nhằm phục vụ các mưu
kế trần gian, nhưng nó là một cách thế làm cho tình yêu hiện
diện tại nơi đây và lúc này, tình yêu mà con người luôn cần
đến. Thời hiện đại, đặc biệt kể từ thế kỷ XIX, đã bị
thống trị bởi những bản phóng tác khác nhau của một triết lý
về tiến bộ, mà hình thức triệt để nhất là thuyết Mácxít.
Một phần của chiến lược Mácxít là lý thuyết bần cùng hoá:
trong hoàn cảnh của một quyền lực bất chính, họ lập luận như
thế, bất cứ ai dấn thân trong những sáng kiến bác ái thì đang
phục vụ hệ thống bất chính ấy, bằng cách làm cho nó có vẻ có
thể chịu đựng được tới một mức độ nào đó. Việc ấy làm
chậm đi một cuộc cách mạng tiềm tàng và vì thế gây trở
ngại cho cuộc chiến xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Nhìn
theo cách ấy, bác ái bị loại trừ và bị tấn công như một phương
thế bảo vệ hiện trạng status quo. Quả vậy đây là một
triết lý vô nhân đạo. Con người của ngày hôm nay bị sát tế
cho thần môlốc của ngày mai—một ngày mai mà sự thực
hiện có hiệu quả thì đáng ngờ. Ta không thể làm cho trần gian
nhân bản hơn bằng cách từ chối hành động cách nhân đạo lúc
này và ở đây. Chúng ta đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn
chỉ bằng cách từng cá nhân làm việc thiện ngày hôm nay, với
sự dấn thân trọn vẹn và bất cứ nơi nào chúng ta có cơ hội,
độc lập với mọi mưu kế và chương trình của phe phái. Chương
trình của kitô giáo —chương trình của người Samaritanô nhân
hậu, chương trình của Đức Giêsu—là “một trái tim biết nhìn
thấy”. Trái tim này nhìn thấy nơi nào tình yêu đang cần đến và
hành động cách phù hợp. Rõ ràng là khi hoạt động bác ái được
thực hiện bởi Hội Thánh như một sáng kiến của cộng đoàn,
sự tự phát của cá nhân phải phối hợp với kế hoạch, tầm nhìn
và cộng tác với những tổ chức tương tự.
c) Hơn thế nữa, bác ái không thể được sử dụng như
một phương tiện để dấn thân trong cái mà ngày nay ta gọi là
chiêu mộ tín đồ. Tình yêu thì tự do; nó không thể được
thực hành như một phương thế để đạt tới mục đích khác.[30]
Nhưng điều này không có nghĩa là phải để Thiên Chúa và Đức
Kitô ra một bên. Bởi vì nó luôn liên can đến toàn thể con người.
Thường nguyên do sâu xa nhất của đau khổ là chính sự vắng
mặt của Thiên Chúa. Những ai thực hành đức ái nhân danh Hội Thánh
sẽ không bao giờ tìm cách áp đặt đức tin của Hội Thánh trên
kẻ khác. Họ nhận thức rằng một tình yêu tinh tuyền và quảng
đại là chứng tá tốt nhất về Thiên Chúa mà chúng ta tin và thúc
đẩy chúng ta yêu thương. Một kitô hữu biết lúc nào phải nói
về Thiên Chúa và lúc nào không nói gì thì tốt hơn và để cho
một mình tình yêu cất tiếng. Người ấy biết rằng Thiên Chúa là
tình yêu (x. 1 Ga 4,8) và sự hiện diện của Thiên Chúa được
cảm nghiệm chính vào lúc điều duy nhất chúng ta làm là yêu thương.
Người ấy biết rằng—để trở về với câu hỏi đặt ra trước
kia—khinh thị tình yêu là khinh thị Thiên Chúa và con người; đó
là một nỗ lực hành động mà không có Thiên Chúa. Vì thế, sự
bảo vệ tốt nhất cho Thiên Chúa và con người hệ tại chính
yếu trong tình yêu. Trách nhiệm của những tổ chức bác ái của
Hội Thánh là tăng cường ý thức này nơi các thành viên, để
nhờ hoạt động của họ—cũng như nhờ lời nói, sự thinh
lặng, gương sáng của họ—họ có thể trở thành những chứng
nhân đáng tin cậy của Đức Kitô.
Những người chịu trách nhiệm về hoạt động bác ái của
Hội Thánh
32. Cuối cùng, chúng ta phải hướng sự chú ý của chúng ta
một lần nữa đến những người chịu trách nhiệm thực thi
hoạt động bác ái của Hội Thánh. Như những suy tư của chúng ta
trên đây đã làm rõ, chủ thể đích thực của những tổ chức Công
giáo khác nhau đang gánh vác một tác vụ bác ái là chính Hội Thánh—ở
tất cả mọi bình diện, từ các giáo xứ, đến Giáo hội địa
phương, đến Hội Thánh toàn cầu. Vì lý do ấy quả là thích
hợp nhất khi vị tiền nhiệm của tôi, Đức Phaolô VI, đã thiết
lập Hội đồng Giáo hoàng Đồng Tâm Cor Unum như cơ quan
của Toà Thánh có trách nhiệm định hướng và điều phối các
tổ chức và các hoạt động bác ái của Hội Thánh Công giáo.
Theo cơ cấu giám mục của Hội Thánh, các Giám mục, trong tư cách
là người kế vị các Tông đồ, được trao phó trách nhiệm căn
bản là thực thi trong Giáo hội địa phương chương trình đã được
đề ra trong sách Công vụ các Tông đồ (x. 2,42-44): hôm
nay cũng như trong quá khứ, Hội Thánh như gia đình của Thiên Chúa,
phải là một nơi giúp đỡ lẫn nhau, và đồng thời, một nơi
sẵn sàng giúp đỡ cả những người bên ngoài đang cần sự trợ
giúp. Trong nghi thức truyền chức giám mục, ngay trước hành vi
hiến thánh, tiến chức phải trả lời nhiều câu hỏi diễn tả
những yếu tố cốt yếu của chức vụ và nhắc lại các nhiệm
vụ của thừa tác vụ tương lai của mình. Ngài hứa cách rõ ràng
là, nhân danh Chúa, tiếp đón và tỏ lòng nhân từ đối với người
nghèo khó và với tất cả những ai đang cần an ủi và trợ giúp.[31]
Giáo Luật, trong điều khoản về thừa tác vụ của giám
mục, không rõ ràng đề cập đến bác ái như một lãnh vực đặc
biệt của hoạt động giám mục, nhưng chỉ trình bày cách chung
nhiệm vụ của giám mục là điều phối các công việc tông đồ
khác nhau nhưng vẫn tôn trọng tính cách riêng của mỗi việc.[32]
Tuy nhiên, mới đây, cuốn Kim chỉ nam về thừa tác vụ mục
vụ của các Giám mục đã đào sâu cách cụ thể hơn nhiệm
vụ bác ái như một trách nhiệm là phận sự của toàn thể Hội
Thánh và của mỗi Giám mục trong Giáo phận của mình,[33] và
nhấn mạnh rằng việc thực thi bác ái là một hành động của
Hội Thánh, và giống thừa tác vụ ban phát Lời và các Bí tích, nó
cũng đã là một phần cốt yếu của sứ mạng Hội Thánh ngay từ
khởi đầu.[34]
33. Về những gì liên quan đến nhân sự đang gánh vác cụ thể
hoạt động bác ái của Hội Thánh, điều chính yếu đã được nói:
họ không lấy cảm hứng từ các ý thức hệ có mục tiêu là
cải tiến trần gian, nhưng đúng hơn phải được hướng dẫn
bởi đức tin hành động nhờ đức ái (x. Gl 5,6). Vì thế, hơn
hết mọi sự, họ phải là những con người được tình yêu Đức
Kitô thúc đẩy, những con người mà trái tim của Đức Kitô đã
chinh phục bằng tình yêu, khi gợi lên trong lòng họ tình yêu thương
đối với người lân cận. Tiêu chuẩn gợi hứng hoạt động
của họ phải là khẳng định của thánh Phaolô trong Thư
thứ hai gởi tín hữu Côrintô: “tình yêu của Đức Kitô
thúc bách chúng ta” (5,14). Ý thức rằng, trong Đức Kitô, Thiên Chúa
đã hiến thân cho chúng ta, cả cho đến chết, phải thúc đẩy chúng
ta sống không cho chính mình nữa nhưng cho Người, và, cùng với người,
cho kẻ khác. Ai yêu Đức Kitô thì yêu Hội Thánh, và ao ước
rằng Hội Thánh ngày càng trở nên hình ảnh và khí cụ của tình
yêu tuôn tràn từ Đức Kitô. Nhân sự của mọi tổ chức bác ái
Công giáo muốn hành động với Hội Thánh và vì thế với giám
mục, để tình yêu của Thiên Chúa có thể lan rộng khắp gian. Khi
tham dự vào việc thể hiện tình yêu của Hội Thánh, họ muốn là
chứng nhân của Thiên Chúa và của Đức Kitô, và chính vì thế
họ sẵn sàng làm điều thiện cho tất cả mọi người.
34. Sự mở lòng bên trong theo chiều kích Công giáo của Hội Thánh
không thể không thúc đẩy những người làm việc bác ái hành động
trong sự hoà hợp với các tổ chức khác khi đáp ứng những hình
thức khác nhau của thiếu thốn; tuy nhiên điều ấy phải được
thực hiện trong sự tôn trọng tính cách đặc biệt của công
việc phục vụ mà Đức Kitô đòi hỏi nơi các môn đệ. Thánh
Phaolô, trong bài thánh ca về đức ái (x. 1 Cr 13), dạy chúng
ta rằng đức ái còn hơn là một hoạt động đơn thuần: “Giả
như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân
xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng
chẳng ích gì cho tôi” (v. 3). Bản thánh ca này phải phải là
Hiến chương (Magna Carta) của tất cả mọi công tác phục
vụ của Giáo hội; nó tóm tắt tất cả các suy tư về tình yêu mà
tôi đã trao ban qua Thông điệp này. Hoạt động cụ thể sẽ luôn
tỏ ra là chưa đủ, trừ phi nó diễn tả cụ thể một tình yêu
đối với con người, một tình yêu được nuôi dưỡng bởi một
sự gặp gỡ với Đức Kitô. Sự chia sẻ sâu xa của cá nhân tôi
trong nhu cầu và đau khổ của người khác trở nên một chia sẻ
của chính bản thân tôi với họ: để quà tặng của tôi không gây
sự sỉ nhục nơi người khác, tôi phải trao ban cho người khác không
chỉ cái gì của tôi, nhưng trao ban chính bản thân tôi; tôi phải
đích thân hiện diện trong quà tặng.
35. Cách thức phục vụ đúng đắn người khác này cũng dẫn đến
sự khiêm tốn. Người phục vụ không thể đặt mình ở trên người
được phục vụ, dầu hoàn cảnh họ vào lúc này cực khổ như
thế nào đi nữa. Đức Kitô đã tìm kiếm chỗ rốt hết trong
trần gian—Thánh giá—và nhờ sự khiêm hạ triệt để này Người
đã cứu chuộc chúng ta và luôn giúp đỡ chúng ta. Những ai đang
ở vị thế giúp đỡ người khác sẽ nhận thức rằng khi làm
thế chính họ lại nhận được sự giúp đỡ; có khả năng giúp
đỡ người khác chẳng phải là công lao hoặc thành tựu của
bản thân. Nhiệm vụ này là một ân ban. Chúng ta càng hành động
cho kẻ khác, chúng ta càng hiểu và có thể áp dụng cho chính mình
lời của Đức Kitô: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng” (Lc
17,10). Chúng ta nhìn nhận rằng chúng ta đang hành động không
dựa trên một sự trổi vượt nào hay hiệu năng cá nhân lớn hơn
nào, nhưng bởi vì Chúa đã ban ơn cho chúng ta. Có những lúc gánh
nặng của thiếu thốn và giới hạn riêng của chúng ta có thể lôi
cuốn chúng ta ngã lòng. Nhưng chính lúc ấy sẽ giúp chúng ta biết
rằng, cuối cùng, chúng ta chỉ là những dụng cụ trong bàn tay
của Chúa; và hiểu biết này giải thoát chúng ta khỏi sự kiêu căng
khi nghĩ rằng chỉ mình cá nhân chúng ta chịu trách nhiệm xây
dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Với tất cả sự khiêm tốn
chúng ta sẽ làm điều chúng ta có thể, và với tất cả sự khiêm
tốn chúng ta sẽ giao phó phần còn lại cho Chúa. Chính Thiên Chúa
lãnh đạo trần gian, chứ không phải chúng ta. Chúng ta dâng tặng
cho Người sự phục vụ của chúng ta, theo mức độ khả năng chúng
ta, và bao lâu Người ban sức mạnh cho chúng ta. Tuy nhiên, làm tất
cả những gì chúng ta có thể, với sức mạnh mà chúng ta có, đó
là nhiệm vụ bắt người đầy tớ tốt lành của Đức Kitô Giêsu
luôn làm việc: “Tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng ta” (2
Cr 5,14).
36. Khi chúng ta thấy vô vàn nhu cầu của người khác, chúng ta có
thể, một mặt, bị lôi kéo về một ý thức hệ có tham vọng làm
ngay bây giờ điều mà Thiên Chúa, khi lãnh đạo trần gian, có vẻ
như không làm được: giải quyết hoàn toàn mọi vấn đề. Hoặc
chúng ta có thể bị cám dỗ đầu hàng và án binh bất động,
dựa trên cảm tưởng rằng, dầu sao đi nữa, chẳng điều gì được
hoàn thành. Vào lúc ấy, một mối tương quan sống động với Đức
Kitô là sự nâng đỡ quyết định để ở lại trên con đường
đúng đắn, mà không rơi vào một sự khinh miệt kiêu căng đối
với con người, là điều gì không những không xây dựng mà còn
hủy hoại, hoặc đầu hàng, cam chịu, nó ngăn cản chúng ta được
hướng dẫn bởi tình yêu trong việc phục vụ kẻ khác. Lời cầu
nguyện, như một phương thế múc nguồn sức mạnh mới từ Đức
Kitô, trở thành một sự cấp bách hoàn toàn cụ thể. Con người
cầu nguyện thì không bỏ phí thời giờ, cho dù hoàn cảnh xem ra
tuyệt vọng và có vẻ chỉ đòi hỏi hành động. Lòng đạo đức
không làm suy yếu cuộc chiến chống lại sự nghèo khó của người
lân cận chúng ta. Chân phước Têrêsa Calcutta là một gương mẫu
tỏ lộ rằng thời gian dành cho Thiên Chúa trong lời cầu nguyện
không những không làm tổn hại đến hiệu năng hay việc phục
vụ yêu thương đối với người lân cận, nhưng lại là nguồn
mạch vô tận cho công việc phục vụ ấy. Trong lá thư Mùa Chay
1996, Chân phước Têrêsa đã viết cho những người giáo dân cộng
tác: “Chúng ta cần đến mối liên lạc thâm sâu với Thiên Chúa
trong đời sống hằng ngày. Làm sao chúng ta có thể đạt đến điều
đó? Chính bằng lời cầu nguyện”.
37. Đây là lúc phải tái khẳng định tầm quan trọng của lời
cầu nguyện khi đối diện với chủ nghĩa duy hoạt động và chủ
nghĩa tục hoá đang lớn mạnh nơi nhiều kitô hữu đang dấn thân
trong công việc bác ái. Rõ ràng, người Kitô hữu khi cầu nguyện
không tự nhận là có thể thay đổi chương trình của Thiên Chúa
hoặc sửa đổi điều mà Người đã tiên liệu. Đúng hơn, anh tìm
kiếm một sự gặp gỡ với Cha của Đức Giêsu Kitô, để cầu
xin Thiên Chúa cùng với sự an ủi của Chúa Thánh Thần hiện
diện với anh và trong công việc của anh. Mối tương quan cá nhân
với Thiên Chúa và sự từ bỏ ý riêng có thể ngăn ngừa sự
xuống cấp của con người và cứu ta khỏi trở thành mồi ngon
của chủ thuyết cuồng tín và bạo động. Một tâm tình tôn giáo
đích thực ngăn ngừa con người lên mặt phê phán Thiên Chúa, khi
kết tội Người đã để cho nghèo đói hoành hành và không tỏ lòng
thương xót đối với các thụ tạo. Khi người ta dám chống lại
Thiên Chúa nhân danh các quyền lợi của con người, thì họ có
thể cậy dựa vào ai khi hoạt động của con người tỏ ra là
bất lực?
38. Quả thực ông Gióp đã than vãn trước mặt Thiên Chúa về sự
hiện diện của những đau khổ không thể hiểu được và có vẻ
phi lý trong trần gian. Trong cơn đau đớn, ông thốt lên: “Ai sẽ
cho tôi biết tôi phải tới đâu để tìm Người, và làm sao đến
được nơi Người ngự?... Tôi sẽ biết những điều Người trả
lời tôi, và hiểu được những gì Người nói. Với tôi, Người
có phải đem hết sức ra tranh luận?... Vì thế, đứng trước nhan
Người, tôi đâm sợ hãi, chỉ nghĩ đến Người là đã khiếp
kinh. Thiên Chúa làm cho tôi nhát đảm, Đấng Toàn Năng khiến tôi
phải kinh hoàng” (23:3, 5-6, 15-16). Thường chúng ta không thể
hiểu tại sao Thiên Chúa chậm trễ trong sự can thiệp. Tuy nhiên Người
không ngăn cản chúng ta thốt lên, như Đức Giêsu trên Thánh giá:
“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46).
Chúng ta phải tiếp tục đặt câu hỏi này khi đối thoại trong
tinh thần cầu nguyện trước nhan thánh Chúa: “Lạy Chúa chí thánh
và chân thật, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn?” (Kh 6,10).
Chính thánh Augustinô cho chúng ta câu trả lời của đức tin trước
những đau khổ: “Si comprehendis, non est Deus”—“nếu bạn
hiểu được Người thì Người không còn là Thiên Chúa nữa.” [35]
Sự phản kháng của chúng ta không có nghĩa là chúng ta thách
thức Thiên Chúa, hoặc ám chỉ là nơi Người có sai lầm, yếu đuối
hoặc lãnh đạm. Vì đối với người tin, không thể tưởng tượng
được rằng Thiên Chúa bất lực hoặc “có lẽ Người đang
ngủ” (x. 1 V 18,27). Trái lại, tiếng kêu than của chúng
ta, như tiếng kêu của Đức Giêsu trên Thánh giá, là cách thức sâu
xa và triệt để nhất để khẳng định đức tin của chúng ta vào
quyền năng tối cao của Người. Dù hoang mang và không hiểu được
thế giới chung quanh, người kitô hữu tiếp tục tin vào “lòng nhân
hậu và yêu thương của Thiên Chúa” (Tt 3,4). Chìm đắm như
mọi người trong sự phức tạp bi thảm của các biến cố lịch
sử, họ vẫn đứng vững trong xác tín rằng Thiên Chúa là Cha chúng
ta và yêu thương chúng ta, cho dù sự thinh lặng của Người vẫn
khó hiểu.
39. Đức tin, đức cậy và đức ái đi đôi với nhau. Đức cậy
được thực hành qua đức kiên nhẫn, nghĩa là vẫn tiếp tục làm
việc lành dù khi đối diện với những thất bại bên ngoài, và
qua đức khiêm hạ, nghĩa là chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa
và tín thác vào Người dù trong tăm tối. Đức tin kể cho chúng ta
rằng Thiên Chúa đã ban Chúa Con để cứu độ chúng ta và gợi lên
trong chúng ta niềm xác tín vinh thắng rằng đó là sự thật: Thiên
Chúa là tình yêu! Vì thế nó biến đổi sự mất kiên nhẫn và
nghi ngờ của chúng ta thành niềm hi vọng vững chắc: Thiên Chúa
nắm giữ thế giới trong bàn tay của Người và như hình ảnh
cảm động của phần cuối Sách Khải huyền nêu lên, dù
trong đêm tối, cuối cùng Người chiến thắng trong vinh quang. Vì
thấy tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải trong trái tim bị
đâm thâu của Đức Giêsu trên Thánh giá, đức tin làm nảy sinh tình
yêu. Tình yêu là ánh sáng—và cuối cùng, chỉ mình ánh sáng—mới
có thể chiếu sáng luôn mãi một thế giới đang mờ tối và ban
lại cho chúng ta lòng can đảm cần thiết để sống và hành động.
Tình yêu thì có thể thực hiện được, và chúng ta có khả năng
thực hành bởi vì chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh
của Thiên Chúa. Kinh nghiệm tình yêu và theo cách ấy làm cho ánh sáng
của Thiên Chúa đi vào trong thế giới—đó là lời mời gọi tôi
muốn nêu lên với Thông điệp này.
KẾT LUẬN
40. Cuối cùng, chúng ta hãy nhìn đến các vị thánh, các ngài
thực thi bác ái cách mẫu mực. Tâm trí chúng ta đặc biệt hướng
về thánh Máctinô thành Tours († 397), người chiến sĩ đã trở nên
một tu sĩ và một giám mục: Ngài như thể là một bức i-côn,
diễn tả giá trị không thể thay thế được của chứng từ cá
nhân đối với đức ái. Bên cửa thành Amiens, Máctinô đã trao
một nửa áo choàng của ngài cho một người nghèo: chính Đức Giêsu
đêm ấy đã hiện ra với ngài trong một giấc mơ, mình mặc tấm
áo choàng ấy, để xác nhận giá trị vĩnh cửu của lời Tin
mừng: “Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc... mỗi lần các
ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta
đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,36.40).[36]
Và trong lịch sử của Hội Thánh, còn biết bao chứng từ khác
về lòng bác ái ta có thể trích dẫn! Cách riêng, toàn thể phong
trào đan tu, từ lúc đầu với thánh Antôn Viện phụ († 356),
diễn tả việc phục vụ bác ái rộng rãi đối với người lân
cận. Trong cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt” với Thiên Chúa Đấng
là Tình yêu, người đan sĩ cảm thấy bị thúc bách phải biến đổi
toàn thể cuộc đời thành việc phục vụ người lân cận, bên
cạnh việc phục vụ Thiên Chúa. Điều này giải thích việc nhấn
mạnh rất nhiều đến lòng hiếu khách, tiếp đón và chăm sóc
những người yếu đau bên cạnh các đan viện. Điều ấy cũng
giải thích vô vàn sáng kiến đem lại hạnh phúc cho con người và
đào tạo các kitô hữu, nhắm đến trước tiên chính những người
nghèo, họ là đối tượng chăm sóc trước tiên của các đan
viện và Dòng khất thực, sau đó của rất nhiều tu hội nam nữ
khác nhau theo giòng lịch sử của Hội Thánh. Khuôn mặt của các
vị thánh như Phanxicô Assisi, Ignatiô Loyola, Gioan Thiên Chúa, Camilô
Lellis, Vinh Sơn, Louise Marillac, Giuse B. Cottolengo, Gioan Bosco, Luigi
Orione, Têrêsa Calcutta –nêu lên chỉ một số ít mà thôi—nổi
bật như những gương mẫu trường cửu về lòng bác ái xã hội
cho mọi người thiện chí. Các thánh là những người đích thực
mang ánh sáng vào lịch sử, bởi vì họ là những người nam nữ
của đức tin, đức cậy và đức ái.
41. Nổi bật giữa các thánh là Đức Maria, Mẹ của Chúa và là
tấm gương của mọi thánh thiện. Trong Tin mừng thánh Luca chúng
ta thấy Mẹ dấn thân phục vụ bác ái cho người chị họ Elisabét,
Mẹ đã ở lại “khoảng ba tháng” (1,56) để giúp bà trong giai
đoạn cuối của thời kỳ mang thai. “Magnificat anima mea Dominum”,
Mẹ thốt lên trong dịp thăm viếng ấy, “Linh hồn tôi ngợi khen
Đức Chúa” (Lc 1,46). Qua những lời này, Mẹ diễn tả toàn
thể chương trình cuộc sống của Mẹ: không đặt mình làm trung tâm,
nhưng dành chỗ cho Thiên Chúa, Đấng được gặp gỡ trong lời
cầu nguyện và cả trong việc phục vụ người lân cận—chỉ như
thế sự thiện hảo mới đi vào trần gian. Sự cao cả của Đức
Maria hệ tại nơi sự kiện là ngài muốn tôn vinh Thiên Chúa, chứ
không tôn vinh chính mình. Mẹ sống hèn mọn: Mẹ chỉ muốn làm
nữ tì của Chúa (x. Lc 1,38.48). Mẹ biết rằng Mẹ chỉ đóng
góp vào việc cứu độ trần gian nếu, thay vì thực hiện chương
trình riêng của mình, Mẹ đặt mình hoàn toàn theo sự sắp xếp
của sáng kiến Thiên Chúa. Đức Maria là một phụ nữ của niềm
hi vọng: chỉ vì Mẹ tin vào lời hứa của Thiên Chúa và trông
chờ ơn cứu độ của Israel; thiên thần có thể đến thăm Mẹ và
kêu mời Mẹ phục vụ dứt khoát cho những lời hứa ấy. Đức
Maria là một phụ nữ của lòng tin: “Phúc cho em vì đã tin”, bà
Elisabét nói với Mẹ (x. Lc 1,45). Kinh Magnificat—có
thể nói được là một tấm ảnh về linh hồn của Mẹ—được
dệt toàn bộ bằng những sợi chỉ của Kinh Thánh, những sợi
chỉ rút từ Lời Thiên Chúa. Nơi đây chúng ta thấy Đức Maria hoàn
toàn gần gũi như thế nào với Lời Thiên Chúa, ngài đi vào đi ra
hết sức tự nhiên như trong nhà vậy. Mẹ nói và nghĩ với Lời
Thiên Chúa; Lời Thiên Chúa trở nên lời của Mẹ, và lời Mẹ phát
xuất từ Lời Thiên Chúa. Ở đây chúng ta tấy tư tưởng của
Mẹ hoà hợp với tư tưởng của Thiên Chúa như thế nào, ước
muốn của Mẹ nên một với ước muốn của Thiên Chúa như thế nào.
Bởi vì Đức Maria hoàn toàn thấm nhuần Lời Thiên Chúa, Mẹ có
khả năng trở nên Mẹ của Ngôi Lời nhập thể. Cuối cùng, Đức
Maria là một phụ nữ yêu thương. Làm sao có thể khác được? Là
một tín hữu, trong đức tin, suy nghĩ với tư tưởng của Thiên Chúa
và ao ước với ý muốn của Thiên Chúa, Mẹ không thể không là
một phụ nữ yêu thương. Chúng ta cảm nhận được điều đó qua
những cử chỉ yên lặng, như được kể lại trong các bài trình
thuật thời thơ ấu trong Tin mừng. Chúng ta thấy điều đó qua
sự tế nhị mà Mẹ nhận ra nhu cầu của đôi tân hôn tại Cana và
báo cho Đức Giêsu biết. Chúng ta thấy điều đó trong sự khiêm
hạ mà Mẹ chấp nhận lui vào hậu cảnh trong cuộc đời công khai
của Đức Giêsu, bởi vì Mẹ biết rằng Chúa Con phải thiết lập
một gia đình mới và giờ của Mẹ chỉ đến với Thánh giá,
giờ ấy sẽ là giờ đích thực của Đức Giêsu (x. Ga 2,4;
13,1). Khi các môn đệ chạy trốn, Đức Maria vẫn đứng dưới chân
Thánh giá (x. Ga 19,25-27); sau nữa, vào giờ Hiện xuống, chính
họ sẽ quây quần bên Mẹ để đón chờ Chúa Thánh Thần (x. Cv
1,14).
42. Đời sống của các thánh không chỉ giới hạn vào tiểu sử
ở dưới trần gian nhưng cũng bao hàm cuộc sống và hành động
trong Thiên Chúa sau cái chết. Trong các vị thánh một điều trở nên
rõ ràng: những ai đến gần Thiên Chúa thì không xa lìa con người,
nhưng đúng hơn trở nên thật sự gần gũi với họ. Chúng ta không
thấy điều này rõ hơn nơi người nào ngoài Đức Maria. Những
lời Chúa chịu đóng đinh nói với người môn đệ—với Gioan và
qua ngài với tất cả mọi môn đệ của Đức Giêsu: “Đây là
mẹ con!” (Ga 19,27)—được thể hiện cách mới mẻ trong
mọi thế hệ. Đức Maria thực sự đã trở nên Mẹ của tất cả
các tín hữu. Những người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi
đã trông cậy vào lòng nhân hậu của Mẹ, sự tinh tuyền khiết
trinh và ân sủng của Mẹ, trong tất cả mọi nhu cầu và khát
vọng, vui buồn, những giây phút cô đơn và những nỗ lực chung.
Họ kinh nghiệm thường xuyên quà tặng là lòng nhân ái và tình yêu
không bao giờ cạn mà Mẹ đổ vào trong sâu thẳm của tâm hồn.
Những chứng từ về lòng biết ơn, được dâng lên từ mọi lục
địa và nền văn hoá, là một nhìn nhận của tình yêu tinh tuyền
ấy, tình yêu không tìm kiếm chính mình nhưng chỉ muốn điều
thiện. Đồng thời, lòng sùng kính của các tín hữu biểu lộ
trực giác không sai lầm về cách thức làm sao một tình yêu có
thể được: nó trở thành như thế nhờ kết hiệp mật thiết
với Thiên Chúa, qua đó tâm hồn hoàn toàn bị Thiên Chúa chiếm
hữu—một điều kiện giúp cho những ai đã uống từ nguồn
mạch tình yêu Thiên Chúa lại trở nên một nguồn suối từ đó
“tuôn chảy những giòng nước hằng sống” (Ga 7,38). Đức
Maria, Nữ trinh và Mẹ, tỏ cho chúng ta biết tình yêu là gì và múc
nguồn cũng như sức mạnh luôn đổi mới từ đâu. Hướng về
Mẹ chúng ta giao phó Hội Thánh và sứ mạng phục vụ tình yêu
của Hội Thánh:
Thánh Maria, Mẹ của Thiên Chúa,
Mẹ đã ban cho thế gian ánh sáng thật,
Đức Giêsu, Con của Mẹ –Con của Thiên Chúa.
Mẹ đã phó thác hoàn toàn chính mình
vào lời mời gọi của Thiên Chúa
và vì thế trở nên nguồn suối
của lòng nhân hậu vốn tuôn trào từ Người.
Xin tỏ cho chúng con Đức Giêsu.
Xin dẫn chúng con đến với Người.
Xin dạy chúng con nhận biết và yêu mến Người,
để chúng con cũng có thể trở nên
những con người có khả năng yêu thương đích thực
và nguồn mạch của nước hằng sống
giữa một thế gian đang khát nước.
Ban hành tại Rôma, Đền thánh Phêrô, ngày 25 tháng 12, Lễ
trọng Sinh nhật của Chúa, trong năm 2005, năm đầu triều đại giáo
hoàng của tôi.
BENEDICTUS PP. XVI
[11] De Trinitate, VIII, 8, 12: CCL 50, 287.
[12] X. I Apologia, 67: PG 6, 429.
[13] X. Apologeticum, 39, 7: PL 1, 468.
[14] Thư gởi tín hữu Rôma., Inscr: PG 5, 801.
[15] X. Thánh Ambrosiô, De officiis ministrorum, II, 28, 140: PL
16, 141.
[16] X. Ep. 83: J. Bidez, Hoàng đế Giulianô, tác phẩm
toàn bộ, Paris 19602, v. tôi, 2a, p. 145.
[17] X. Thánh Bộ các Giám mục, Kim chỉ nam về Thừa tác vụ
mục vụ của Các Giám mục Apostolorum Successores (22/2/2004),
194, Vatican City 2004, p. 213.
[18] De Civitate Dei, IV, 4: CCL 47, 102.
[19] X. Hiến chế Mục vụ về Hội Thánh trong Thế giới ngày
nay Gaudium et Spes, 36.
[20] X. Thánh Bộ các Giám mục, Kim chỉ nam về Thừa tác vụ
mục vụ của Các Giám mục Apostolorum Successores (22/2/2004),
197, Vatican City 2004, p. 217.
[21] Gioan-Phaolô II, Tông huấn sau Thượng Hội đồng Christifideles
Laici (30/12/1988), 42: AAS 81 (1989), 472.
[22] X. Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú giáo thuyết về
một vài Câu hỏi liên quan đến sự Tham dự của người Công giáo
trong Đời sống Chính trị (24/11/2002), 1: L'Osservatore Romano,
Bản tiếng Anh, 22/1/2003, p. 5.
[23] Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 1939.
[24] Sắc lện Tông đồ Giáo dân Apostolicam Actuositatem,
8.
[25] Ibid., 14.
[26] X. Thánh Bộ các Giám mục, Kim chỉ nam về Thừa tác vụ
mục vụ của Các Giám mục Apostolorum Successores (22/2/2004),
195, Vatican City 2004, pp. 214-216.
[27] X. Gioan-Phaolô II, Tông huấn sau Thượng Hội đồng Christifideles
Laici (30/12/1988), 41: AAS 81 (1989), 470-472.
[28] X. No. 32: AAS 80 (1988), 556.
[29] No. 43: AAS 87 (1995), 946.
[30] X. Thánh Bộ các Giám mục, Kim chỉ nam về Thừa tác vụ
mục vụ của Các Giám mục Apostolorum Successores (22/2/2004),
196, Vatican City 2004, p. 216.
[31] X. Pontificale Romanum, De ordinatione episcopi, 43.
[32] X. Điều 394; Giáo luật của Giáo hội Đông Phương,
Điều 203.
[33] X. Nos. 193-198: pp. 212-219.
[34] Ibid., 194: pp. 213-214.
[35] Sermo 52, 16: PL 38, 360.
[36] X. Sulpicius Severus, Vita Sancti Martini, 3, 1-3: SCh 133,
256-258.
(HẾT)
Theo Bản dịch của
Lm. Phan Du Sinh
Vietcatholic
News