(Dựa
trên bài viết của bà Barb Fraze, biên tập viên tin quốc tế
của cơ quan thông tấn Công Giáo Hoa Kỳ CNS, với một số chú
thích và quảng diễn của dịch giả)
Các học giả và các nhà xã hội học Công Giáo đôi khi gọi
cuộc hồi sinh tôn giáo hiện nay ở Trung Hoa là cuộc loan báo
Tin Mừng lần thứ năm.
 |
| Một
phần của bia đá Nestorian Stele |
Lần loan Tin Mừng đầu tiên xảy ra
vào thế kỷ VII khi thầy dòng Alopen từ Assyria mang niềm tin
Kitô Giáo đến Trung Hoa theo con đường Tơ Lụa nổi tiếng. Tưởng
cũng nên biết, đường tơ lụa (Silk Road) là một hệ thống
đường bộ và đường thủy dài khoảng 8,000 km, nối liền
Tràng An ở Trung Quốc với vùng Tiểu Á và Địa Trung Hải.
Giai đoạn này được đánh dấu bằng bia đá gọi là
Nestorian Stele hoặc Nestorian Stone, diễn tả các giáo thuyết và
nghi lễ Kitô Giáo, cũng như việc phát triển của đạo thánh
ở Trung Hoa với sự ủng hộ của một số hoàng đế thời
nhà Đường, một triều đại kéo dài từ năm 618-907. Bia này
làm bằng đá vôi, cao 279 cm, được dựng lên năm 781 tại
cổ thành Tràng An, với nội dung do một tu sĩ chịu ảnh hưởng
của lạc giáo Nestorianism biên soạn, nhưng hầu hết các học
giả hiện đại cho rằng nội dung về tín lý, lịch sử được
tạc trên tảng đá nói trên có thể được mọi Kitô hữu
thời nay chấp nhận. Bia đá cho biết hoàng đế Taizong nhà
Đường đã công nhận Giáo Hội thời ấy, được gọi là
“quang minh đạo” (luminous religion).
Vào cuối thế kỷ XIII, khi cha Gioan thành Montecorvino, cũng là
một tu sĩ dòng Phanxicô người Ý và là nhà thừa sai Công Giáo
đầu tiên đến Trung Hoa, thời kỳ loan Tin Mừng lần thứ hai
đã bắt đầu. Vào năm 1307, Đức Giáo Hoàng Clement V đã bổ
nhiệm vị thừa sai này làm tổng giám mục vì ngài thành công
trong việc mời gọi một số quan lại cao cấp Trung Quốc theo
Công Giáo, thanh tẩy cho khoảng 6,000 người, và cất nhiều nhà
thờ. Cứ thế, các tu sĩ Phanxicô đã theo nhau truyền giáo ở
Trung Hoa trong gần 100 năm. Theo tự điển bách khoa New Catholic,
vào năm 1368 tại Trung Hoa đã có thể có tới 30,000 tín hữu
Công Giáo, mặc dù đa số không thuộc về khối dân đa số là
dân Hán.
 |
| Cha
Matteo Ricci, vị thừa sai được dân Trung Quốc kính
nể |
Vào những năm đầu thế kỷ XVI, các
tu sĩ dòng Tên, dòng Phanxicô, dòng Augustinô, và dòng Đaminh đã
cố gắng tìm một chỗ đứng ở Trung Hoa, nhưng không thể đi
xa hơn hải cảng ở Quảng Châu (Guangzhou), nơi mà họ chỉ
được phép tạm trú một thời gian ngắn. Sau đó, hai cha dòng
Tên người Ý là Michele Ruggieri và Matteo Ricci đã thành công hơn.
Hai vị cư ngụ ở Triều Châu (Zhaozhou), ăn mặc như những tu
sĩ Phật Giáo, rồi lại nên giống các nho sĩ của Khổng Giáo.
Nhờ có những dụng cụ khoa học từ Tây phương, hai vị được
các nho sĩ kính nể và bảo vệ. Cha Ruggieri đã trở về Âu
châu để tìm thêm hỗ trợ, còn cha Ricci thì đã có thể sinh
sống ngay tại Bắc Kinh vào năm 1601. Các tu sĩ dòng Tên sau đó
đã giúp sửa lại những sai lầm trong niên lịch của hoàng
triều, nhờ vậy uy tín của các vị thừa sai càng lên cao.
Vào năm 1653, các dòng tu khác lần lượt kéo nhau đến Trung
Quốc, và chẳng bao lâu sau đó, các dòng đã khoanh vùng để
truyền giáo. Đến năm 1700, Công Giáo có khoảng 20,000 tín
hữu ở Trung Hoa, nhưng đáng tiếc là sự hiểu lầm về
“nghi lễ Trung Hoa” hay là nghi lễ tôn kính Khổng Tử và
tổ tiên đã làm cho việc phát triển Giáo Hội bị khựng
lại. Các tu sĩ của các dòng Phanxicô, Đaminh, Augustinô và các
thành viên của Hội Thừa Sai Paris đã bất đồng ý kiến
với các tu sĩ dòng Tên là những người sáng suốt chấp
nhận nghi lễ tôn kính tổ tiên và việc dùng những từ ngữ
Trung Hoa để chỉ Thiên Chúa. Sau đó qua các tông sắc vào năm
1715 và 1742, Tòa Thánh đã ngăn cấm nghi lễ tôn kính tổ tiên,
và các hoàng đế Trung Hoa đã phản ứng bằng cách cấm chỉ
việc rao giảng Kitô Giáo cũng như ra lệnh trục xuất các
vị thừa sai nào không ủng hộ nghi lễ nói trên. Giai đoạn
này, vào thế kỷ XVI và XVII, được gọi là cuộc loan Tin
Mừng lần thứ ba. Phải hai thế kỷ sau đó, Tòa Thánh mới xét
lại vấn đề, và ra một tông sắc vào ngày 8-12-1939, cho phép
Kitô hữu tham gia vào các nghi lễ tôn kính Khổng Tử và tổ
tiên. Công Đồng Vatican II, từ năm 1962-65, cũng công bố nguyên
tắc đón nhận các nghi lễ địa phương vào phụng vụ Hội
Thánh khi có thể được.
Thời kỳ loan Tin Mừng lần thứ tư xảy ra vào giữa thế
kỷ XVIII, khi hiệp ước Thiên Tân (Tianjin) bảo đảm quyền
tự do tôn giáo cho mọi Kitô hữu. Thế là nhiều dòng thừa
sai trở lại Trung Hoa, và Tòa Thánh bắt đầu phân định các
lãnh thổ truyền giáo cho các dòng. Việc truyền giáo này được
kể là phát triển, cho tới khi cộng sản xâm lấn Trung Hoa vào
năm 1949, kéo theo việc đàn áp Giáo Hội, trong đó có việc
trục xuất các vị thừa sai ngoại quốc và bắt giam cũng như
tra tấn các tu sĩ trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa 1966-76. Ngay
từ những năm đầu tiên khi cộng sản nắm quyền ở Hoa
Lục, các tôn giáo đã bị coi là phong kiến, lạc hậu, có liên
hệ với chủ nghĩa thực dân. Nhà cầm quyền ngay từ thời
ấy đã ra sức ngăn cản việc hành đạo của tín đồ các tôn
giáo, rồi ngang nhiên cướp phá hoặc tịch thu nhiều nhà
thờ, đền chùa của các tôn giáo và dùng cho những mục đích
trần tục.
 |
| Những
bia mộ của các vị thừa sai vẫn còn ở Bắc Kinh |
Thời kỳ loan báo Tin Mừng lần thứ
năm được coi là khởi sự vào thập niên 1980, khi Trung Hoa
bắt đầu cho dân sinh hoạt tôn giáo. Một số học giả nói
rằng, không giống như những thời kỳ loan báo Tin Mừng trưóc
đây lệ thuộc vào các vị thừa sai ngoại quốc, giai đoạn
hiện nay được đánh dấu bằng việc chính những người Công
Giáo Trung Quốc tuân giữ và truyền đạt niềm tin của mình.
Tất nhiên, sự “cho phép” hành đạo hiện nay chỉ là một
cách trình diễn đối với quốc tế, khi nhà cầm quyền Bắc
Kinh cần thu hút đầu tư và làm ăn với quốc tế để phát
triển nền kinh tế của mình. Theo tài liệu của Hội Đồng
Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ, trước đây đa số những di dân
người Hoa từ Đài Loan hoặc Hong Kong tìm đến Mỹ, nhưng nay
đa số đến từ Trung Hoa lục địa, đặt biệt là từ tỉnh
Phúc Kiến (Fujian). Nhiều người trong số các di dân Công Giáo
này phải rời bỏ Trung Hoa vì bị ép phải triệt sản
(sterilization) và vì chính sách mỗi gia đình một con của nhà
cầm quyền. Những chủng sinh đến từ Trung Hoa lục địa
gặp nhiều khó khăn tại Mỹ, không chỉ về phương diện ngôn
ngữ, mà còn về mặt văn hóa và lối sống. Họ còn cảm
thấy linh đạo Tây phương quá xa lạ, cho nên khó kiếm được
một vị linh hướng thích hợp với mình. Hơn thế, khi họ đi
thực tập mục vụ ở các cộng đoàn, những người Công Giáo
Mỹ thường không tin tưởng vào sự chính thống của các
chủng sinh người Hoa vì họ có liên hệ với nhóm Công Giáo
quốc doanh. |